Xác nhận quyền sử dụng đất để sản xuất quy mô lớn

(Diễn đàn trí thức) - Xác định rõ nội dung các quyền liên quan đến đất đai đem lại những tác động tích cực, nhất là trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Báo Đất Việt xin giới thiệu tham luận của TS Nguyễn Đức Truyến tại diễn đàn khoa học Khuyến nghị một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong Luật Đất đai 2013 do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức:

I. Vấn đề xác nhận các quyền về đất đai và các vấn đề xã hội hiện nay

Vấn đề các quyền về đất đai ở nước ta hiện nay rất phức tạp, do thừa kế, sang nhượng hay mua bán giữa các chủ quyền sử dụng hay sở hữu đất đai. Người sở hữu các quyền về đất đai cần được xác nhận các quyền của mình một cách kịp thời và đúng đắn mới có thể khai thác tối ưu những khả năng đóng góp của đất đai cho lợi ích của chủ sở hữu, chủ sử dụng hay cho cá nhân, cho cộng đồng và cho xã hội.

Ngược lại, sự xác nhận các quyền với đất đai không được xác nhận kịp thời và đúng đắn sẽ gây ra những trở ngại của chủ sử dụng và chủ sở hữu trong sản xuất, quy hoạch và sử dụng đất đai ở các cấp độ cá nhân, cộng đồng và xã hội.

Trong quá trình chuyển đổi của nền nông nghiệp nước ta từ kinh tế tập thể sang kinh tế hộ nông dân rồi sang kinh tế hộ kinh doanh trong kinh tế thị trường hiện nay, động lực của sự chuyển đổi chính là sự xác nhận những thay đổi về quyền sử dụng đất của người lao động phù hợp với những thay đổi của tính chất của nền kinh tế và của chế độ sở hữu. Sự xác nhận quyền sử dụng đất gắn với các quyên tổ chức sản xuất, bao gồm sự đầu tư các nguồn lực con người và vật chất và quyền thụ hưởng thành quả của sự đầu tư trên đất  sử dụng, bao gồm mối quan hệ giữa chủ sở hữu là Nhà nước hay tập thể với cá nhân hay nhóm là chủ sử dụng đất.

Trong quá trình nghiên cứu xã hội học về các vấn đề nông thôn, nông nghiệp và nông dân ở nước ta kể từ khi đổi mới nay, chúng tôi nhận thấy rằng việc xác định rõ nội dung của các quyền liên quan đến đất đai đã đem lại những tác động rất tích cực, nhất là trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Xac nhan quyen su dung dat de san xuat quy mo lon
Quản lý quyền sở hữu đất đai cần được thống nhất quản lý của cơ quan quản lý nhà nước Trung ương. Ảnh minh họa

Người nông dân khi thấy rõ những lợi ích của họ trong sản xuất nông nghiệp trên đất nhận khoán của Nhà nước được bảo đảm bởi các quyền sử dụng đất, do pháp luật quy định, nên đã đầu tư mọi nguồn lực tinh thần và vật chất mà họ có được trên mảnh đất này cho dù đó chưa phải là mảnh đất thuộc quyền sở hữu của họ. Sự xác nhận quyền sử dụng đất này và những thành quả trong sản xuất nông nghiệp trên cả nước đã đem lại lợi ích không chỉ cho bản thân người nông dân và gia đình họ, mà còn cho tổ chức hợp tác xã và nhất là cho Nhà nước, biến nước ta từ nước thiếu đói triền miên những năm 1980 về trước thành nước xuất khẩu gạo trong tốp đầu của thế giới, từ những năm 1990.

1. Quyền sử dụng đất

Là quyền sử dụng  đất có thời hạn theo hợp đồng sử dụng, có thể mua bán, cho, sang nhượng, trao đổi và cầm cố

Việc xác nhận quyền sử dụng đất cho hộ nông dân còn giúp họ có quyền tập trung đất đai trong các nhóm cánh đồng mẫu lớn, theo hướng sản xuất tập trung quy mô lớn, hiện đại, được tiếp cận các dịch vụ tài chính như vay vốn, dịch vụ kỹ thuật như huấn luyện đào tạo kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, v.v.

Ngày nay, do nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường, việc chuyển đổi vốn đầu tư từ nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp cùng cần có sự xác nhận quyền sử dụng đất để người nông dân có thể sử dụng quyền sử dụng như tư bản sản xuất kinh doanh trong trao đổi đất để dồn điền đổi thửa, cho mượn, cầm cố hay bán quyền sử dụng đất để có vốn kinh doanh.

Sự thành công của việc tâp trung ruộng đất ở các vùng ĐBSCL đã cho thấy hiệu quả của việc xác nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp khi đưa sản xuất nông ngiệp vùng này lên sản xuất lớn dễ dàng hơn các vùng khác.

Sự chuyển đổi từ kinh tế hộ gia đình gắn với sản xuất nông nghiệp gia đình không có vốn đầu tư nên thu nhập thấp và duy trỳ tình trạng tự cung tự cấp lâu dài sang kinh tế hộ kinh doanh dù thu nhập còn hạn chế song đã không còn tình trạng tự cung tự cấp nên đời sống nông dân luôn được cải thiện rõ rệt.

Việc xác nhận quyền sử dụng đất trong kinh tế thị trường như là tư bản trong giao dịch và sản xuất kinh doanh cần được thực hiện nhất quán trong trường hợp ruộng đất được trao đổi giữa các thành phần kinh tế khác nhau. Sự trao đổi giữa các thành phần kinh tế cần được thực hiện bình đẳng theo giá thị trường và thỏa thuận giữa các bên, tránh để các thành phần kinh tế lơi dụng quyền lực nhà nước để giành lợi ích cho mình và gây thiệt hại cho người nông dân.

Trên bình diện xã hội, việc xác nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều bất cập nên còn đặt ra nhiều vấn đề về phát triển kinh tế và công bằng xã hội giữa các vùng khác nhau:

Ở các vùng miền núi, do quyền sử dụng đất canh tác gắn với quyền sở hữu của các cộng đồng truyền thống, nên khi có sự thay đổi tổ chức hành chính và kinh tế, như sát nhập cộng đồng trong thời kỳ hợp tác xã, làm cho quy mô nhân khẩu gia tăng trong khi diện tích đất canh tác chủ yếu dựa vào việc đốt nương làm rẫy hay chặt phá rừng. Sự mất cân bằng sinh thái không thể không dẫn đến tình trạng phá rừng làm rẫy tràn lan gây mất ổn định của hệ thống sinh thái kinh tế cũng như sự xung đột xã hội giữa cộng đồng bản địa với cộng đồng nhập cư.

Sự chuyển đổi từ kinh tế sinh tồn (săn bắt hái lượm và trồng trọt) sang kinh tế công nghiệp hay nông nghiệp đều có nguy cơ hủy hoại môi trương tự nhiên và xã hội nghiêm trọng. Vì thế việc quản lý quyền sử dụng đất gắn với việc quản lý nhân khẩu gắn với quy hoạch kinh tế và bảo vệ môi trường chính là phương tiện để bảo đảm quyền sử dụng đất của đồng bào các dân tộc thiểu số hiện nay.

Tuy nhiên quyền sở hữu hay sử dụng đất không thể chỉ giới hạn ở  diện tích hay quy mô đất ở hay canh tác, mà còn phải đảm bảo đem lại các nguồn sinh kế cơ bản bảo đảm mức sống tối thiểu cho người lao động. Cần bảo đảm rằng quyền sử dụng đất của các cộng đồng địa phương miền núi không mâu thuẫn với quyền được bảo đảm về môi trường của toàn xã hội. Vì thế cơ quan xác nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp phải tách biệt với cơ quan xác nhận quyền sử dụng đất rừng.

Việc cấp quyền sử dụng đất cần gắn với đặc trưng sinh kế và trình độ sản xuất của các hộ gia đình. Không nên xác định tiêu chí hộ nghèo hoàn toàn do thiếu đất nên dẫn đến tình trạng cấp đất tràn lan mà cuối cùng các hộ được cấp đất lại bán đất vì không đủ năng lực sản xuất. Trong trường hợp này chỉ nên cho vay vốn và hỗ trợ kinh nghiệm sản xuất.   

2. Quyền sở hữu đất đai

Là quyền sở hữu vĩnh viễn: không thời hạn, có thể mua bán, cho, sang nhượng, trao đổi và cầm cố.

Đặc trưng của quyền này là quyền sở hữu đất ở có sự xác nhận của Nhà nước
Chủ thể sở hữu là các cá nhân, các thực thể có tư cách pháp nhân như ngân hàng, hợp tác xã, tổ chức xã hội và tôn giáo,…

Quyền sở hữu này chỉ có hiệu lực khi có giấy xác nhận của Nhà nước
Việc mua bán quyền sở hữu giữa các cá nhân chỉ cần sự xác nhận của chính quyền địa phương.

Việc mua bán giữa cá nhân và thực thể có tư cách pháp nhân phải có xác nhận của Nhà nước Trung ương để đảm bảo sự thống nhất của quy hoạch sử dụng đất trong vùng và địa phương.

Việc mua bán quyền sở hữu đất đai giữa cá nhân là người có quốc tịch Việt Nam và người nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam, vì thế cần có sự quản lý của Nhà nước, bất kể dưới hình thức nào. Việc người Việt Nam đứng tên mua đất cho người nước nên được coi là bất hợp pháp để có cơ sở hủy hợp đồng sau này.

Việc quản lý quyền sở hữu đất đai cần được thống nhất quản lý của cơ quan quản lý nhà nước Trung ương. Việc các cơ quan quản lý địa phương tùy tiện cấp quyền sở hữu đất đai đã dẫn đến những sai lệch về chính sách quản lý đất đai chung của cả nước, và tình trạng tham nhũng.

Việc xác nhận quyền sở hữu đất đai do quyền thừa kế từ gia đình cùng cần được kiểm soát theo luật dất đai và luật hôn nhân gia đình. Do nhiều hộ nông thôn chỉ chia thừa kế theo truyền thống bằng miệng mà không có văn bản chủ yếu dựa vào sự đồng thuận trong gia đình dễ dẫn đến sự lạm quyền và tranh chấp quyền sở hữu đất đai. Cần xác định rõ quyền thừa kế đất ở dựa trên luật đất đai hiện nay của Nhà nước để tránh sự lạm quyền trong gia đình, gây bất bình đẳng giữa các thành viên, giữa nam và nữ.

II. Cần phân biệt các quyền sử dụng đất khác nhau để tránh lạm dụng các quyền

Mặt khác, sự phân biệt các quyền sử dụng đất đai cùng rất cần thiết để tránh sự lạm quyền hay sự vi phạm các quyền về đất đai khác nhau như: quyền canh tác, quyền xây dựng, quyền khai hoang và thụ hưởng sản phẩm, v.v.

1. Quyền canh tác: Để đảm bảo hiệu quả sản xuất và kinh tế,  diện tích đất cho thuê cần được xác định một quy mô phù hợp, với các nước thường là từ 5 ha trở lên, với thời hạn từ 35 năm đến 50 năm. Người thuê đất chỉ có quyền canh tác mà không có quyền triển khai các hoạt động kinh doanh khác như xây dựng hay sản xuất công nghiệp và dịch vụ, v.v.

2. Quyền xây dựng: người thuê đất có quyền xây dựng các công trình cho thuê theo thời hạn quy định và theo luật đất đai của Nhà nước.

3. Quyền khai hoang và thu hoạch sản phẩm rừng: Người khai hoang hay cộng đồng không có quyền sở hữu đất rừng đã khai hoang mà chỉ có quyền sử dụng theo thời hạn. Nhà nước chỉ can thiệp khi có sự thay đổi mục đích sử dụng đất.

  • TS Nguyễn Đức Truyến

Chủ Nhật, 19/07/2020 07:34

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện