GLTT: KHCN nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm doanh nghiệp

Khoa học và công nghệ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp.

Đó là chủ đề của buổi Giao lưu trực tuyến do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Báo Đất Việt tổ chức vào chiều 30/10/2019 tại Hà Nội.

GLTT: KHCN nang cao nang suat, chat luong san pham doanh nghiep
Khoa học và công nghệ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Tham gia Giao lưu trực tuyến có ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ); ông Đoàn Tiến Dũng – Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà; Ông Phan Đức Hiếu – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.

Nội dung buổi giao lưu trực tuyến sẽ làm nổi bật được mục đích, ý nghĩa và kết quả đạt được của Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” và định hướng trong thời gian tới để hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng của doanh nghiệp tiếp tục có hiệu quả hơn nữa trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.

Kể từ năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 712/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”. Với sự quyết tâm, sâu sát của Bộ Khoa học và Công nghệ, trực tiếp là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đến nay Chương trình đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều doanh nghiệp đã được các cơ quan, đơn vị của Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ tích cực đối với các vấn đề về KH&CN, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ…

Để chia sẻ những thông tin về việc ứng dụng KH&CN trong nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp, từ 14h30 30/10/2019, các vị khách mời sẽ có buổi giao lưu trực tuyến với bạn đọc báo Đất Việt.

Ngay từ bây giờ, xin mời độc giả truy cập vào www.baodatviet.vn để có thể trực tiếp đặt câu hỏi với các vị khách mời vào ô bên phải màn hình.

GLTT: KHCN nang cao nang suat, chat luong san pham doanh nghiep
Các khách mời tham dự giao lưu trực tuyến Khoa học và công nghệ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp

  • câu hỏi
    Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của Chương trình 712 đối với doanh nghiệp trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa?
    Đàm Hoài Thu , 37 tuổi , Yên Mỹ, Hưng Yên
    trả lời Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Chương trình 712 là một cách truyền thống mà Chính phủ thường sử dụng để hỗ trợ doanh nghiệp trong nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Chương trình có ý nghĩa trực tiếp hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nâng cao năng lực của doanh nghiệp để họ có thể thay đổi, tổ chức lại sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo giá trị gia tăng cho chính doanh nghiệp.

    Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương trả lời câu hỏi của độc giả.
    Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương trả lời câu hỏi của độc giả.


    Nhìn rộng ra, ngoài Chương trình 712, Chính phủ có nhiều chương trình để thúc đẩy cho doanh nghiệp như cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ luật pháp, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.

    Ví dụ, ban hành chính sách cạnh tranh, tạo động lực, sức ép để doanh nghiệp tự đổi mới, phát triển sản phẩm mới để tự phát triển.

    Tuy nhiên, Chương trình 712 là sự trợ giúp của Chính phủ mà doanh nghiệp nên chủ động tham gia. Chương trình 712 đã hỗ trợ các doanh nghiệp tăng năng suất và chất lượng nhanh hơn.

    Ngay cả khi không có chương trình 712 thì doanh nghiệp càng phải có sự thay đổi trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và tác động của sự phát triển khoa học công nghệ (như cuộc cách mạng 4.0).


  • câu hỏi
    Từ khi Chương trình 712 ra đời đã xây dựng, tổng hợp nhiều giải pháp, biện pháp mang tính hệ thống với hàng loạt các công cụ cải tiến, hệ thống quản lý tiên tiến đã giúp doanh nghiệp làm tốt hơn quá trình sản xuất của mình, hướng tới giảm chi phí, tăng năng suất. Xin ông cho biết, Chương trình 712, trực tiếp là việc triển khai Dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp” đã tác động như thế nào đối với doanh nghiệp?
    Nguyễn Hồng Nhung , 37 tuổi , Dịch Vọng -Cầu Giấy -Hà Nội
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà

    Chương trình 712 của Chính phủ đã triển khai 10 năm, Công ty Cổ phần May Nam Hà đã tham gia chương trình này được 10 năm. Thị trường xuất khẩu của chúng tôi chủ yếu là thị trường của Hoa Kỳ, Châu Âu.

    Mặt hàng chính của Công ty là quần áo bơi. Với 1 doanh nghiệp, thị trường có yêu cầu rất cao về tính hệ thống, về chất lượng, yêu cầu khắt khe về xã hội, môi trường, chất lượng sản phẩm nên chúng tôi ý thức được việc tham gia chương trình sẽ là một động lực để thúc đẩy sự phát triển và giải được bài toán về năng suất và chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Trong thực tế khi tham gia chương trình này thì bài toán về năng suất và chất lượng tại doanh nghiệp được giải quyết rất tốt. Cụ thể là năng suất lao động bình quân trong 9 năm khi thực hiện chương trình là đạt tăng năng suất bình quân 12 %/năm.

     Có những năm chúng tôi đạt được tốc độ tăng năng suất đến 30 %/năm  khi tham gia chương trình này. Về chất lượng sản phẩm, Công ty Cổ phần May Nam Hà đã có được sự tín nhiệm của khách hàng và chúng tôi đã đạt được 6 năm liền giải Bạc Giải thưởng Chất lượng Quốc gia.  


  • câu hỏi
    Xin ông cho biết, thời gian qua Nhà nước đã có những cơ chế chính sách gì liên quan đến việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa?
    Đặng Tuấn Hùng , 43 tuổi , Khu công nghiệp Thụy Vân, Việt Trì, Phú Thọ
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ): Trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Một số văn bản thể hiện rõ được chủ trương trên như:

    1. Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    2. Nghị quyết số 27 NQ/CP ngày 21/02/2017 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016.

    3. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045.

    4. Quyết định 712 /QĐ/TTG ngày 21/05/2010 về việc phê duyệt chương trình quốc gia nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa cho doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020.

    Và rất nhiều các văn bản quyết định khác có liên quan như quyết định số 100/QĐ-TTG về quản lý chính sách nguồn gốc,...


  • câu hỏi
    Hiện nay các doanh nghiệp đã thực sự quan tâm đến vấn đề nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa, thưa ông?
    Trần Ngọc Minh , 30 tuổi , Kim Sơn, Ninh Bình
    trả lời  Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Theo quan sát của tôi, có lẽ doanh nghiệp rất quan tâm đến việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, kết quả đạt được và mức độ quan tâm có lẽ chưa đạt được như kỳ vọng của Chính phủ cũng như của các bên có liên quan.

    Mức độ quan tâm cũng rất khác nhau giữa các doanh nghiệp. Những tính chất kinh doanh, ngành nghề, quy mô và trình độ của các doanh nghiệp khác nhau.

    Nhưng doanh nghiệp chỉ quan tâm không thì chưa đủ, cần phải có những kế hoạch hành động rất cụ thể, thiết thực. Ví dụ, điều tra gần đây về câu hỏi, doanh nghiệp hiểu gì về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoảng 80% doanh nghiệp trả lời là chỉ nghe nói hoặc hiểu biết sơ sơ. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội cho các doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng kinh doanh nhưng các doanh nghiệp chỉ hiểu một cách mơ hồ, thể hiện sự quan tâm là chưa thực sự lớn.


  • câu hỏi
    Với xu thế kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng như hiện nay, nâng cao năng suất là yếu tố nền tảng cho phát triển kinh tế và tăng trưởng. Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, cạnh tranh về giá và việc tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải có nhận thức rõ tầm quan trọng của việc cải tiến năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa ra sao, thưa ông?
    Nguyễn Thu Huyền , 35 tuổi , Cầu Giấy, Hà Nội
    trả lời  Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Đây là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp. Tại sao lại như vậy? Năng suất dẫn đến 2 kết quả: Năng suất là giảm chi phí, tạo thêm nhiều sản phẩm và cùng một chi phí như vậy thì tạo ra giá trị cao hơn.

    Như vậy thì doanh nghiệp có năng suất tốt, sản phẩm tố hơn, cạnh tranh tốt hơn, có cơ hội mang lại lợi nhuận tốt hơn. Ngược lại năng suất kém, chi phí sản xuất cao, sản phẩm chất lượng không cao sẽ dẫn tới nguy cơ bị thị trường đào thải.

    Như vậy, mọi doanh nghiệp cần nhận thức rất rõ, nâng cao năng suất trước hết là vì lợi ích của doanh nghiệp và cần phải tích cực, chủ động tìm kiếm các giải pháp để nâng cao năng suất và họ phải làm việc này ngay cả khi Chính phủ không có một chương trình hay không tìm được một chương trình trợ giúp nào của Chính phủ.

    Trong tư duy của doanh nghiệp, cần tư duy rất đơn giản, tìm mọi cơ hội để giảm chi phí sản xuất hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm.


  • câu hỏi
    Chương trình 712, trực tiếp là việc triển khai Dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp” đã tác động như thế nào đến doanh nghiệp trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa trong thời gian vừa qua?
    Nguyễn Thái Bá , 35 tuổi , Hà Đông, Hà Nội
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh:  Giai đoạn I của Chương trình 712 (2012 - 2015) đã mang lại nhiều kết quả như: 57/63 tỉnh/thành phố và một số bộ/ngành đã phê duyệt và triển khai các chương trình năng suất chất lượng, giúp nâng cao nhận thức của toàn xã hội về năng suất, chất lượng; hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng; hướng dẫn hỗ trợ gần 1.000 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng như ISO 50001, ISO 31000, ISO 22000, ISO 9001, Lean, MFCA, TPM, KPIs, 7 công cụ kiểm soát chất lượng, 5S…; phát triển thương hiệu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ...

    Giai đoạn II của Chương trình 712 tiếp tục xây dựng tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực; 100% phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa chủ lực đạt trình độ quốc tế; tiếp tục hướng dẫn các doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; tiếp tục xây dựng phong trào năng suất và chất lượng tại tất cả các tỉnh thành phố trong cả nước; đa số các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực xây dựng và thực hiện các dự án nâng cao năng suất và chất lượng…

    Hoạt động thúc đẩy năng suất chất lượng của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã mang lại một số kết quả trọng tâm đó là:

    Các doanh nghiệp Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua không ngừng cải tiến năng suất, chất lượng và hiệu quả quản lý.

    Các doanh nghiệp đã đưa vào áp dụng các chương trình cải tiến năng suất, chất lượng, coi đó là hoạt động không thể thiếu trong doanh nghiệp mình. Các hoạt động quản lý chất lượng, cải tiến chất lượng, tiêu chuẩn hoá và ứng dụng các tiêu chuẩn ngày càng được áp dụng hiệu quả và nhân rộng.

    Các hệ thống quản lý như ISO 9000, SA 8000, ISO 14000, GMP, HACCP đã trở thành các hệ thống quen thuộc với các doanh nghiệp. Đồng thời, các chương trình và công cụ cải tiến Kaizen, 5S, Lean, Lean 6Sigma… và các công cụ quản lý khác cũng được quan tâm và ứng dụng nhiều hơn.

    Các tổ chức, cơ quan hành chính nhà nước cũng tham gia hỗ trợ tích cực trong việc thúc đẩy phong trào bằng việc tiếp thu và phổ biến những phương pháp mới, ứng dụng những công cụ quản lý như ISO 9000 để đẩy mạnh chất lượng phục vụ, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

    Hoạt động thúc đẩy năng suất chất lượng quốc gia đã được chứng minh là đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới và khu vực. Đây là hoạt động xúc tác thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.

    Hiện nay, chương trình năng suất chất lượng quốc gia 712 đã triển khai được gần 10 năm ở các Bộ/ngành, địa phương với nhiều kết quả nổi bật, nhiều cá nhân, doanh nghiệp điển hình đã được hỗ trợ từ chương trình và năng suất chất lượng đã tăng lên rõ rệt (có nhiều doanh nghiệp báo cáo sau khi được hỗ trợ tư vấn và áp dụng các hệ thống, công cụ cải tiến năng suất thì năng suất của doanh nghiệp đã tăng lên 20-30% so với trước khi áp dụng).

    Có thể khẳng định (Chương trình 712) đã giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

    Tham gia chương trình này, doanh nghiệp được tiếp cận các hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế (ISO 9.000, ISO 14.000) và hệ thống các công cụ cải tiến cơ bản (như 5S, Lean hoặc Lean 6 Sixma...).

    Đến nay, đã có 15 nghìn doanh nghiệp được hướng dẫn áp dụng các mô hình mới để cải tiến năng suất, chất lượng. Ban Điều hành Chương trình 712 cho biết, việc triển khai ứng dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng tiên tiến và áp dụng các tiêu chí quản lý của mô hình Giải thưởng Chất lượng quốc gia đã giúp cho hàng chục nghìn doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, giảm chi phí sai lỗi, qua đó nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh.

    Thí dụ, tại Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông, sau khi công ty áp dụng công cụ cải tiến cho dây chuyền lắp ráp đèn led, giảm lãng phí, chế tạo các dụng cụ, gá, thay đổi thiết kế và tự động hóa một số thiết bị lắp ráp, bao gói..., năng suất của dây chuyền điểm tăng 59%, giá trị mang lại gần một tỷ đồng/năm.

    Công ty cổ phần Cao-su Phước Hòa áp dụng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001:2011, sử dụng nguyên liệu sinh khối biomass đun nóng dầu tản nhiệt để sấy cao-su thay thế dầu DO, FO giúp tiết kiệm hơn 1,3 tỷ đồng (năm 2015), 803 triệu đồng (năm 2016) và hơn 1,4 tỷ đồng (năm 2017).

    Thông qua việc triển khai hệ thống quản lý chất lượng ô-tô IATF, doanh nghiệp Lê Group (Hà Nội) và Công ty 4P Electronics (Hải Phòng) đã rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm, giảm đến mức thấp nhất sản phẩm lỗi, hỏng. Doanh nghiệp cũng đã tiếp cận và từng bước triển khai các công cụ cải tiến năng suất cơ bản khác.


  • câu hỏi
    Theo ông, năng suất, chất lượng có phải là yếu tố cốt lõi để quyết định giá trị thương hiệu của một doanh nghiệp?
    Hoàng Thị Phương , 35 tuổi , TX.Thuận An, Bình Dương
    trả lời  Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Năng suất, chất lượng một phần là yếu tố cốt lõi để quyết định giá trị của doanh nghiệp nếu nhìn từ góc độ doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm như sản phẩm nhiều công năng hơn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hơn, chất lượng tốt hơn.

    Những giá trị gia tăng chính là giá trị thương hiệu của doanh nghiệp.

    Ngoài ra, nó còn đóng góp giá trị vì để có sản phẩm tốt hơn thì doanh nghiệp cũng cần có quản trị tốt hơn, có chiến lược hơn và tầm nhìn dài hạn hơn. Những yếu tố này cũng tạo giá trị thương hiệu của doanh nghiệp.


  • câu hỏi
    Sự tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình 712? Xin ông đánh giá về thực trạng triển khai tại các tỉnh?
    Cao Minh Hà , 42 tuổi , quận Phú Nhuận, TP.HCM
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh: Đến thời điểm hiện tại đã có 06/07 Bộ đã phê duyệt và đang triển khai thực hiện 08 dự án của Chương trình (bao gồm Bộ KH&CN 02 dự án nền; các Bộ Công thương, Xây dựng, Y tế, NN&PTNT, TTTT mỗi Bộ 01 dự án; riêng Bộ GTVT chưa phê duyệt dự án của ngành nhưng đã triển khai thực hiện lồng ghép vào các chương trình, đề án khác).

    57/63 dự án NSCL địa phương đã được UBND tỉnh/tp phê duyệt và đang triển khai thực hiện (06 tỉnh/tp chưa phê duyệt dự án là Ninh Bình, Bắc Ninh, Lai Châu, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nghệ An).

    Các doanh nghiệp đã chủ động, tích cực tham gia Chương trình và nhiều doanh nghiệp đã được hưởng lợi trực tiếp từ Chương trình (chỉ tính riêng trong khuôn khổ các dự án do Bộ KH&CN chủ trì thực hiện, đã có khoảng 15.000 lượt doanh nghiệp được phổ biến, đào tạo, hướng dẫn trực tiếp áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng).

    Một số doanh nghiệp điển hình triển khai tốt công cụ NSCL nhờ sự hỗ trợ của Chương trình: Tập đoàn Dầu khí; Tổng công ty  Đức Giang, Tổng công ty cơ khí giao thông vận tải Sài gòn, Tổng công ty Cao su Đồng Nai, Tổng công ty Liksin, Tổng công ty Đức Giang, Công ty May Nam Hà, Công ty TNHH Ô tô Trường Hải, Công ty SACOM, Công ty CP Thành Thành Công Biên Hòa; Công ty Nhựa Tiền phong, Công ty CADIVI;

    Công ty Rạng Đông, Công ty Rau quả xuất khẩu An Giang; Công ty Tân Huê Viên, Công ty CP kỹ nghệ Thực phẩm ACECOOK, Công ty Dược phẩm Lâm Đồng; Công ty Nam Dược; Công ty TNHH DTK Phú Thọ...

    Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trả lời giao lưu trực tuyến cùng độc giả
    Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trả lời giao lưu trực tuyến cùng độc giả


  • câu hỏi
    Những thuận lợi, cũng như khó khăn trong việc triển khai thực hiện Chương trình 712 tại doanh nghiệp?
    Hoàng Thùy Dương , 30 tuổi , TT Vân Đình -Ứng Hòa -Hà Nội
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà

    Đối với doanh nghiệp chúng tôi khi tham gia chương trình 712 cũng giống như rất nhiều các doanh nghiệp khác sẽ gặp những khó khăn và những thuận lợi mang tính chất phổ biến và cũng có những nét rất đặc thù đối với Công ty Cổ phần May Nam Hà.

    Những thuận lợi chủ yếu của chúng tôi đó là sự cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo và quyết tâm tham gia chương trình này để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Qua đó để đảm bảo việc làm, đời sống, thu nhập của người lao động.

    Chính vì vậy lãnh đạo và cán bộ công nhân viên đều có ý thức để thực hiện bằng được các nội dung của chương trình này. Về mặt khó khăn, đây là một chương trình có những nội dung rất mới, rất khác biệt với tư duy, nhận thức và tâm lý của người lao động.


    Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà chia sẻ về những thuận lợi, cũng như khó khăn trong việc triển khai thực hiện Chương trình 712 tại doanh nghiệp.
    Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà chia sẻ về những thuận lợi, cũng như khó khăn trong việc triển khai thực hiện Chương trình 712 tại doanh nghiệp.

    Sự khác biệt về văn hóa, về tư duy, nhận thức làm cho quá trình triển khai để đạt được kết quả phải cần một thời gian dài. Chính vì nhận thức được điều đó nên chúng tôi xác định việc triển khai chương trình 712 phải hết sức kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Việc thay đổi việc nhận thức, cách suy nghĩ là một quá trình không thể làm ngay được.


  • câu hỏi
    Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam đang ở đâu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Để bắt kịp xu hướng này, nội tại hoạt động của mỗi doanh nghiệp cần chú trọng những vấn đề gì?
    Vũ Hồng Ngọc , 29 tuổi , Quận 2, TP.HCM
    trả lời  Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Theo một báo cáo của World Bank vào đầu năm nay, nhìn chung Việt Nam đang ở vùng phát triển trũng nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu.


    Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có rất nhiều năng lực doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế so với doanh nghiệp ở các nước xung quanh. Các báo cáo về môi trường kinh doanh, chỉ số đổi mới sáng tạo… đều chỉ ra hàng loạt năng lực hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam như: vấn đề về quản trị doanh nghiệp, chỉ số sáng chế, tính mạo hiểm trong kinh doanh, kỹ năng marketing, chỉ số năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) …

    Để bắt kịp xu hướng này, trước hết doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu một cách sâu sắc, cách mạng 4.0 là gì và tác động tiêu cực, tích cực như thế nào đến doanh nghiệp của mình bởi vì sẽ không có lời giải chung cho mọi doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp sẽ chịu tác động khác nhau, tiêu cực và tích cực. Chỉ khi nào tự doanh nghiệp hiểu được tác động của cuộc cách mạng 4.0 thì mới có thể tận dụng được cơ hội và hạn chế được tác động của chúng.

    Trong câu chuyện này, chính quyền và các Hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò hỗ trợ, cung cấp các chuyên gia cùng thảo luận với doanh nghiệp để đánh giá chính xác tác động và cơ hội, từ đó có giải pháp hợp lý. Doanh nghiệp vẫn phải đặt bài toán về chi phí và lợi ích nhưng ở tầm nhìn dài hạn hơn.


  • câu hỏi
    Khảo sát trên thực tế cho thấy, những doanh nghiệp có áp dụng hệ thống quản lý năng suất chất lượng đạt doanh số cao hơn nhiều so với doanh nghiệp không áp dụng?

    Vậy thời gian qua, việc xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn cho doanh nghiệp, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình đảm bảo an toàn sản phẩm hàng hóa, tổ chức đánh giá sự phù hợp...tại các doanh nghiệp được thực hiện như thế nào, thưa ông?
    Khúc Hoàng Dương , 40 tuổi , Sơn Trà, Đà Nẵng
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh: Đúng như vậy! Các doanh nghiệp chú trọng đến việc áp dụng các hệ thống quản lý, các công cụ năng suất chất lượng, qua khảo sát cho thấy doanh thu, năng suất cao hơn các doanh nghiệp không áp dụng.

    Hiện nay, qua việc triển khai chương trình 72 hệ thống tiêu chuẩn quốc gia hiện hành có khoảng hơn 11.500 tiêu chuẩn, với khoảng hơn 54% hài hòa với tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn quốc tế, do 13 bộ quản lý chuyên ngành, xây dựng, cộng với hệ thống QCVN có khoảng gần 800 quy chuẩn, góp phần tích cực giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý về kinh tế xã hội của đất nước.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu kinh tế quốc tế, hệ thống tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam cũng cần phải liên tục cập nhật, đổi mới để đáp ứng nhu cầu quản lý hiện tại, nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trước đây, tiêu chuẩn hóa định hướng vào các sản phẩm cụ thể, nhưng, hiện nay, đối tượng về tiêu chuẩn hóa đã có sự thay đổi nhất định. Nhiều tiêu chuẩn mới được ban hành, không chỉ liên quan đến chất lượng hàng hóa mà còn liên quan đến trách nhiệm xã hội như: SA 8000, TCVN ISO 26000 liên quan đến vấn đề trách nhiệm xã hội và cũng quy định rất nhiều về những nội dung kiểm soát quá trình khác.

    Định hướng phát triển tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia của Việt Nam hiện nay đang đi theo hướng  đúng xã hội hóa, mà hướng đúng của xã hội hóa là kết nối được tất cả các bên có liên quan đến hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, áp dụng tiêu chuẩn trong quá trình xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, và trong quá trình thực thi quy chuẩn kỹ thuật.

    Tuy nhiên đối với TCVN, quy chuẩn kỹ thuật, lúc này doanh nghiệp phải có trách nhiệm và thực thi việc đó, phải được hỗ trợ từ nhiều các bên liên quan đặc biệt cơ quan thử nghiệm, cơ quan đánh giá, tạo điều kiện để các doanh nghiệp đưa ra sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn, vừa đáp ứng yêu cầu nhà nước, đảm bảo an toàn vệ sinh, môi trường.

    Tiêu chuẩn hóa rất cần cho phát triển bền vững và người chủ doanh nghiệp cần ý thức được điều này. Và cần có giải pháp để áp dụng tiêu chuẩn phù hợp với thực tế doanh nghiệp, tránh việc áp dụng tiêu chuẩn không đúng dễ thành gánh nặng cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng luôn cần ý thức về sự cải tiến, đổi mới liên tục khi sản xuất sản phẩm của mình sao cho chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường.

    Các khách mời đang nhiệt tình tâm huyết trả lời câu hỏi của độc giả khắp cả nước.
    Các khách mời đang nhiệt tình tâm huyết trả lời câu hỏi của độc giả khắp cả nước.


  • câu hỏi
    Ông chia sẻ kinh nghiệm áp dụng thành công các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến và các phương pháp nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa tại doanh nghiệp mình?
    Trần Anh Tuấn , 27 tuổi , Thái Hà -Đống Đa -Hà Nội
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà

    Kinh nghiệm của Công ty Cổ phần May Nam Hà khi triển khai chương trình 712, để đạt được thành công thì chúng tôi lựa chọn làm từ những vấn đề đơn giản rồi mới giải quyết đến những vấn đề phức tạp.

     Cứ khoảng 6 tháng đến 1 năm, chúng tôi sẽ triển khai 1 dự án thành phần. Ví dụ đầu tiên triển khai 5S. 5S là một công cụ rất dễ hiểu, rất đơn giản nhưng có giá trị thực tiễn rất lớn và nó tạo ra 1 không khí làm việc ban đầu.

    Khi triển khai từng bước một, chúng tôi lựa chọn 1 đơn vị làm điểm để rút kinh nghiệm. Từ đơn vị đó chúng tôi tìm ra những khó khăn, những vướng mắc sau đó chúng tôi sẽ triển khai tiếp đến những đơn vị còn lại trong doanh nghiệp.

    Đồng thời với quá trình triển khai, chúng tôi cũng xây dựng những cơ chế, ghi nhận khen thưởng những tập thể, cá nhân làm tốt để thúc đẩy nỗ lực, sự cố gắng của cán bộ công nhân viên.

    Chúng tôi xây dựng những tiêu chí để đánh giá,  điểm số giữa các đơn vị và duy trì suốt quá trình đó hàng ngày, hàng tháng, hàng năm.  Chính vì vậy công việc làm 5S được duy trì và từng bước nâng cao, chúng tôi không nghĩ 1 lần, 1 năm, 1 tháng là có thể làm xong được dự án đó. Chúng tôi chỉ coi đó là sự khởi đầu.

    Với các công cụ khác để nâng cao năng suất lao động như TPM, KAIZEN, KPI, LEAN 6 SIGMA...thì sẽ triển khai từng dự án. Mỗi dự án có thời gian từ 6-12 tháng và liên tục triển khai, đánh giá từng dự án, một khi đạt kết quả như mong muốn sẽ triển khai tiếp những dự án tiếp theo.

    Điều quan trọng nhất đó là người công nhân khi tham gia dự án, người ta phải cảm nhận được những kết quả mang lại thì mới đảm bảo được các dự án thành công và phát huy được những tác dụng tích cực.

     


  • câu hỏi
    Theo ông, mỗi doanh nghiệp cần phải có những giải pháp đồng bộ ra sao trong việc tập trung đẩy mạnh nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa?
    Nguyễn Xuân Việt , 37 tuổi , quận Đống Đa, Hà Nội
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng: Đầu tiên, để triển khai các dự án nâng cao năng suất chất lượng, điều đầu tiên lãnh đạo công ty phải có cam kết và quyết tâm cải tiến năng suất chất lượng của doanh nghiệp.

    Thứ hai, phải chú trọng nguồn nhân lực của doanh nghiệp, đặc biệt xây dựng được đội ngũ nhân lực làm nòng cốt cho các hoạt động sản xuất, cải tiến chất lượng.

    Thứ ba, chủ động tìm hiểu các thông tin, các mô hình nâng cao năng suất tiên tiến, nghiên cứu, áp dụng thích hợp với doanh nghiệp mình.

    Thứ tư, chú trọng tới việc nghiên cứu, tìm hiểu, ứng dụng các công nghệ mới và có những phương án đầu tư, đổi mới thích hợp. Điều này rất quan trọng với doanh nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay.

    Thứ năm, xây dựng hệ thống khuyến khích cán bộ nhân viên trong công ty cho các hoạt động đổi mới, cải tiến năng suất, chất lượng.

    Hiện nay, Nhà nước đã có các chính sách và nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng, doanh nghiệp cần tìm hiểu các thông tin, lựa chọn chương trình thích hợp với điều kiện doanh nghiệp mình, phối hợp với các cơ quan Nhà nước, các trường đào tạo, hiệp hội, để có các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng sản xuất cho doanh nghiệp.


  • câu hỏi
    Chất lượng ngày nay đã trở thành thách thức lớn đối với bất kỳ doanh nghiệp, quốc gia nào trên thế giới khi nền kinh tế mở cửa hội nhập và người tiêu dùng ngày càng yêu cầu khắt khe về chất lượng hàng hóa. Thời gian qua, doanh nghiệp đã tiếp cận những cơ chế chính sách nào để thúc đẩy hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa tại doanh nghiệp?
    Nguyễn Hải Anh , 42 tuổi , Thạch Thất -Hà Nội
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà


    Chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp đã trở thành một thách thức với bất kỳ một quốc gia, doanh nghiệp nào bởi cuộc sống, xã hội, tiến bộ xã hội đều gắn với những nhu cầu và đòi hỏi của con người.

    Những nhu cầu, đòi hỏi đó ngày càng cao hơn, các doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển khi thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao đó của con người, trong đó có nhu cầu về chất lượng hàng hóa.

    Đó là một quy luật, nó chi phối đối với bất kỳ 1 doanh nghiệp, 1 quốc gia nào. Công ty Cổ phần May Nam Hà cũng nhận thức được tính quy luật đó và có những chính sách để thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, của khách hàng.

    Ngoài sự nỗ lực cố gắng, bằng nguồn lực nội tại trong doanh nghiệp, Công ty Cổ phần May Nam Hà đã tìm kiếm sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các chính sách, các chương trình của nhà nước trong đó có chương trình 712.

    Với sự hỗ trợ của chuyên gia Viện Năng suất Việt Nam, các chuyên gia của tổ chức Năng suất Châu Á, những chính sách hỗ trợ kinh phí, cụ thể của nhà nước để thúc đẩy phong trào nâng cao chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy nên chất lượng sản phẩm quần áo bơi của  Công ty Cổ phần May Nam Hà đã đáp ứng được yêu cầu khắt khe của các thương hiệu lớn như Gap, Nike, Taget...


     


  • câu hỏi
    Theo ông, doanh nghiệp Việt gặp những khó khăn gì khi hội nhập kinh tế quốc tế?
    Nguyễn Hà Mai , 27 tuổi , TP. Vinh, Nghệ An
    trả lời Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Từ quan sát của tôi, có mấy điểm như sau:

    Thứ nhất, nếu môi trường thể chế không tốt sẽ làm gia tăng chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp. Như vậy sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các thủ tục hành chính phiền phức, tính không tiên liệu được trong quá trình thực hiện luật pháp có thể tạo ra rủi ro lớn, gia tăng chi phí cho doanh nghiệp, làm mất đi cơ hội kinh doanh.

    Ví dụ, báo cáo của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp Việt Nam tốn rất nhiều chi phí và thời gian để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Điều này ngay lập tức làm gia tăng chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp. Đơn giản nhất là có thể phải thuê thêm nhân viên kế toán, thuế, tốn nhiều thời gian hơn trong việc tuân thủ luật pháp. Giả sử, thủ tục này được đơn giản hơn, chi phí thuê nhân viên kế toán, thuế, có thể thay bằng các nhân viên về marketing, bán hàng, giúp cho doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn và tạo thêm giá trị kinh doanh cho doanh nghiệp.

    Thứ hai, áp lực cạnh tranh ngay trên sân nhà. Chúng ta phải xác định , doanh nghiệp Việt Nam chịu áp lực cạnh tranh rất lớn trước các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn, năng lực sản xuất quản trị tiên tiến như các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hoặc các doanh nghiệp đang xuất khẩu, bán các hàng hóa tại thị trường Việt Nam.

    Thứ ba, việc doanh nghiệp phải tìm hiểu các quy định và tuân thủ pháp luật của các nước nhập khẩu cũng là một thách thức rất lớn. Nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận kênh thông tin để tìm hiểu quy định này nếu có nhu cầu tìm hiểu để mở rộng kinh doanh.

    Bên cạnh đó, thông tin mà doanh nghiệp cần phải được hướng dẫn rất cụ thể. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một kênh thông tin mà doanh nghiệp dễ tiếp cận hoặc đáp ứng được những đòi hỏi trên.

    Thứ tư, còn rất nhiều khó khăn khác như nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực sáng tạo… Nhiều doanh nghiệp phàn nàn rằng họ phải đào tạo lại người lao động sau khi đã tốt nghiệp và được tuyển dụng. Doanh nghiệp khó tuyển dụng được nguồn nhân lực chất lượng và đáp ứng được số lượng theo yêu cầu. Nhiều doanh nghiệp buộc tuyển dụng chuyên gia nước ngoài dù rất mong muốn được tuyển dụng người Việt Nam…


  • câu hỏi
    Trong thời gian tới, doanh nghiệp cần hỗ trợ gì từ phía cơ quan nhà nước để tiếp tục thúc đẩy hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp?
    Đỗ Thị Thủy , 21 tuổi , Lệ Thủy -Quảng Bình
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà

    Để thúc đẩy phong trào năng suất, chất lượng của các doanh nghiệp nói chung và ở Công ty Cổ phần May Nam Hà nói riêng, chúng tôi cho rằng Chính phủ và các cơ quan chức năng cần tổng kết chương trình 712 mà chúng ta đã thực hiện trong vòng 10 năm qua để thấy được những việc đã làm được và những hạn chế để từ đó có những điều chỉnh về chính sách, về cơ chế, tác động đến phong trào nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trong phạm vi cả nước.


  • câu hỏi
    Việc sản phẩm bị cạnh tranh gay gắt đến từ các nước tiên tiến trên thế giới đang là một trong những khó khăn lớn hiện nay của các doanh nghiệp. Liệu đứng trước khó khăn và thử thách này, các doanh nghiệp Việt Nam đang có những giải pháp như thế nào trong việc nâng cao năng suất chất lượng, thưa ông?
    Hoàng Duy Hùng , 32 tuổi , TP Thanh Hóa, Thanh Hóa
    trả lời  Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Việc sản phẩm của doanh nghiệp Việt bị cạnh tranh gay gắt là điều phải chấp nhận và áp lực cạnh tranh có thể còn mạnh mẽ hơn nữa. Nâng cao năng suất, chất lượng là giải pháp hàng đầu cho doanh nghiệp Việt Nam.

    Có rất nhiều giải pháp kỹ thuật cho doanh nghiệp để nâng cao năng suất như: LEAN, ISO, GMP, 5S… và hàng trăm giải pháp kỹ thuật khác.

    Tôi cho rằng, doanh nghiệp cần lưu ý phải có chiến lược dài hạn về nâng cao năng suất. Điều đặc biệt quan trọng là tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng suất không chỉ là sự thay đổi và phải quản trị được sự thay đổi đó trong dài hạn.


  • câu hỏi
    Có ý kiến cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, muốn phát triển bền vững doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải áp dụng KH&CN vào các khâu sản xuất và chú trọng thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Xin ông cho biết, thực trạng những hoạt động nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa, hiệu quả và sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp?
    Đỗ Trần Minh Anh , 38 tuổi , Thanh Miện, Hải Dương
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng: Có thể thấy hoạt động đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm là nhu cầu cấp thiết của các DNNVV. Công nghệ lạc hậu sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng cao, gây ô nhiễm môi trường và cuối cùng là sản xuất ra sản phẩm không thỏa mãn nhu cầu của thị trường về giá cả và chất lượng.

    Phần lớn doanh nghiệp tư nhân đã nhận thức được rằng, yếu tố đổi mới công nghệ trong sản xuất là một vấn đề sống còn. Tuy nhiên, họ vẫn "lực bất tòng tâm". Với nguồn vốn hạn hẹp phần lớn doanh nghiệpvẫn phải chấp nhận sử dụng công nghệ lạc hậu, hiệu suất thấp.

    Tuy nhiên đến thời điểm này thông tin về cuộc cách mạng công nghệ không còn là mới.. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay, đầu tư, hiện đại hóa công nghệ là giải pháp tối ưu để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0 buộc các DN phải thay đổi tư duy quản lý, phương thức sản xuất, trong đó đầu tư vào khoa học công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị sản xuất có yếu tố quyết định.

    Nắm bắt được xu hướng này, thời gian qua, nhiều DN sản xuất nhỏ lẻ  trong nước  đã và đang nỗ lực đầu tư để hiện đại hóa, đưa công nghệ hiện đại vào dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất cạnh tranh.

    Đơn cử, thời gian qua, các làng nghề thủ công đã và đang tập trung vào  nhiều vào việc triển khai ứng dụng công nghệ hiện đại đối với tất cả các khâu sản xuất.Sử dụng mạng xã hội để tiếp cận thị trường trực tiếp cho sản phẩm mình sản xuất ra.

    Giới chuyên gia kinh tế vẫn khuyến cáo, dù là DN lớn hay nhỏ, siêu nhỏ cũng cần phải áp dụng bằng được hệ thống quản trị đạt chuẩn toàn cầu, ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, vì đây là yếu tố quyết định giúp DN có thể đứng vững trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Các DN sẽ không thể bước tiếp nếu cứ mãi sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu.


  • câu hỏi
    Theo ông, để tiếp tục đẩy mạnh Chương trình 712 trong thời gian tới, cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp cần phải làm những gì?
    Vũ Ngọc Mai , 33 tuổi , Ba Đình, Hà Nội
    trả lời Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Việc đầu tiên, cần phải bố trí đủ nguồn lực về tài chính, kỹ thuật và nhân lực để thực thi một cách đầy đủ mục tiêu của Chương trình đặt ra. Nếu chương trình không thể bố trí đủ các nguồn lực thì doanh nghiệp sẽ không được hưởng lợi ích gì. Chúng ta đã nhận được nhiều bài học về những chương trình của Chính phủ mà doanh nghiệp không thể tiếp cận được.

    Vấn đề tiếp theo là truyền thông một cách rộng rãi đến các đối tượng doanh nghiệp về Chương trình 712. Nếu thất bại trong việc truyền thông có thể tạo ra sự không công bằng và méo mó trong hoạt động kinh doanh. Trong trường hợp này, truyền thông đến tổ chức trung gian như Hiệp hội doanh nghiệp, chính quyền địa phương… là rất quan trọng vì các Hiệp hội và chính quyền địa phương là nơi truyền đạt thông tin sâu rộng hơn đến mọi doanh nghiệp, thuộc mọi địa bàn khác nhau.

    Ở quy mô rộng hơn, ngoài Chương trình 712 thì trợ giúp lớn nhất từ Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách là phải có môi trường thể chế, giảm thiểu chi phí, có tính an toàn cao và ít rủi ro cho doanh nghiệp. Như vậy, trong thời gian trước mắt, cần rà soát và bãi bỏ triệt để các quy định tạo ra gánh nặng chi phí không cần thiết, giảm can thiệp hành chính vào hoạt động kinh doanh. Về dài hạn, cần thúc đẩy cạnh tranh và duy trì cạnh tranh lành mạnh là động lực bền vững để doanh nghiệp nâng cao năng suất.


  • câu hỏi
    Có ý kiến cho rằng, năng suất chất lượng là đòn bẩy để doanh nghiệp phát triển.Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ nhờ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng. Xin ông cho biết, thời gian qua doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất ra sao?
    Dương Thị Mai , 21 tuổi , Thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà


    Để thúc đẩy năng suất và chất lượng trong một doanh nghiệp phải giải quyết rất nhiều vấn đề. Theo quan điểm của tôi có một số vấn đề lớn đó là vấn đề thị trường, khách hàng, thiết bị công nghệ, quản trị doanh nghiệp và nguồn nhân lực của doanh nghiệp, nguồn lực tài chính...

    Mỗi một doanh nghiệp sẽ có những nét chung với các doanh nghiệp khác và có những nét đặc thù, tùy thuộc vào những đặc điểm đó để hoạch định chiến lược, mục tiêu và những giải pháp thực hiện phù hợp với hoạt cảnh của doanh nghiệp mình.



    Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà
    Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà trả lời câu hỏi của độc giả.




    Công ty Cổ phần May Nam Hà ngoài việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001 và từng bước thay đổi thiết bị công nghệ cũ lạc hậu bằng các thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại như máy may điện tử, hệ thống truyền treo thông minh...để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Công ty Cổ phần May Nam Hà đã đồng thời giải quyết cả vấn đề năng suất, cả vấn đề chất lượng sản phẩm để đảm bảo tính ưu thế của doanh nghiệp trên thị trường.


  • câu hỏi
    Theo ông, trong thời gian tới Việt Nam cần có những chính sách gì để tiếp tục thúc đẩy năng suất, chất lượng cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam?
    Lê Văn Hùng , 46 tuổi , Ninh Kiều, Cần Thơ
    trả lời Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

    Theo tôi, thứ nhất chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình năng suất chất lượng trong bối cảnh mới – cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có lẽ, cũng đến lúc chúng ta cần nghiên cứu xây dựng chương trình năng suất chất lượng cho thập niên chất lượng lần thứ III (2020 – 2030).

     Thứ hai, cần tạo lập hạ tầng chất lượng quốc gia (gồm tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng) tương ứng với sự phát triển kinh tế xã hội, thậm chí cần phải đi trước một số bước để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu phát triển cho các bên liên quan như doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, các trường đại học, hiệp hội, ngành nghề và các cơ quan quản lý Nhà nước.

     Thứ ba, xây dựng và tiếp tục củng cố đội ngũ chuyên gia đầu ngành về các công cụ năng suất chất lượng, các hệ thống quản lý tiên tiến, các công cụ tích hợp nhằm nhân rộng mạng lưới chuyên gia năng suất, chất lượng trên toàn quốc, đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp.

     Thứ tư, tăng cường năng lực các tổ chức đánh giá sự phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá chứng nhận chất lượng sản phẩm hàng hóa. Đặc biệt, đối với hàng hóa chủ lực, hàng hóa có kim ngạch xuất khẩu cao của Việt Nam.

     Thứ năm, đẩy mạnh công tác truyền thông về các mô hình thành công áp dụng các công cụ năng suất chất lượng, hệ thống quản lý một cách rộng rãi cho hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.


  • câu hỏi
    Viện có đề xuất gì với cơ quan quản lý nhà nước để định hướng doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, tăng sức cạnh tranh trên thị trường để doanh nghiệp thực sự phát triển bền vững, thưa ông?
    Vũ Ngọc Mai , 35 tuổi , TP. Biên Hòa, Đồng Nai
    trả lời Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Để định hướng cho doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước phải hiểu được doanh nghiệp, cùng tư duy với doanh nghiệp. Do đó, trước hết, các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương, Hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức xã hội sẽ phải cùng làm với doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm cho doanh nghiệp, coi sự phát triển của doanh nghiệp cũng là sự phát triển của nền kinh tế.

    Các sự trợ giúp nên hướng tới giải pháp mang tính thực tế nhằm nâng cao kỹ năng kinh doanh của doanh nghiệp.

    Chính quyền cần trở thành một kênh thông tin chất lượng, đầy đủ về các hoạt động kinh doanh, về thị trường.. sẽ giúp doanh nghiệp có thông tin tốt hơn để xây dựng các chiến lược và kế hoạch kinh doanh.

    Cuối cùng, doanh nghiệp cũng cần có một chiến lược kinh doanh dài hạn nhưng linh hoạt, có nghĩa phải xác định có thể rút lui ngay khỏi thị trường, tổ chức lại sản xuất, đổi mới hoặc thay đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh, bám sát nhu cầu thị trường. Cần phải có đầu tư dài hạn và nguồn nhân lực thông qua việc tự đào tạo hoặc có chính sách về thu hút nhân lực tốt.


  • câu hỏi
    Trong thời điểm hội nhập toàn cầu và cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, việc áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng là những giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao vị thế và uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường. Công ty đã đặt ra những lộ trình thực hiện trong thời gian tới như thế nào, thưa ông?
    Cao Ngọc Quý , 36 tuổi , Giao Thiện, Nam Định
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà 

    Tại thời điểm hiện nay, sau gần 10 năm thực hiện chương trình 712 của Chính phủ, Công ty Cổ phần May Nam Hà đã thỏa mãn ngày càng tốt hơn yêu cầu về chất lượng của khách hàng và được khách hàng là thương hiệu lớn như Gap, Nike, Taget tín nhiệm.

    Về năng suất lao động đã tăng trưởng với tốc độ bình quân 12 %/năm trong 9 năm liên tục đã tạo ra nguồn lực tài chính để doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược phát triển trong giai đoạn tới để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

    Mục tiêu của Công ty Cổ phần May Nam Hà trong thời gian tới sẽ nâng cấp hệ thống quản lý nói chung và hệ thống quản lý chất lượng nói riêng có thể đáp ứng được những yêu cầu cao hơn của dòng sản phẩm ở đẳng cấp cao hơn và trở thành nhà sản xuất quần áo bơi chuyên nghiệp hàng đầu ở Việt Nam.

    Ngoài ra Công ty Cổ phần May Nam Hà cũng nghiên cứu và triển khai sản phẩm quần áo bơi để phục vụ thị trường trong nước và khu vực.

     

     


  • câu hỏi
    Theo ông, năng suất chất lượng có phải là yếu tố sống còn của doanh nghiệp trong cạnh tranh, đặc biệt là trong xu hướng toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, Cách mạng Công nghiệp 4.0? Tại sao?
    Nguyễn Ngọc Trâm , 29 tuổi , TP Việt Trì ,Phú Thọ
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà

    Theo quan điểm của tôi, vấn đề năng suất và vấn đề chất lượng sản phẩm là một trong những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.

    Điều đó đúng ở mọi thời đại, điều đó cũng có nghĩa rằng cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với tác động mạnh mẽ, sâu sắc trên phạm vi toàn thế giới thì vấn đề năng suất và chất lượng cũng vẫn là 1 vấn đề mà mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp phải giải quyết. Bởi nếu không giải quyết được một cách có kết quả tốt nhất thì doanh nghiệp và quốc gia không thể tồn tại và phát triển được.

     

     


  • câu hỏi
    Theo ông, doanh nghiệp cần phải có giải pháp gì để tập trung đẩy mạnh nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa?
    Mai Văn Thỏa , 50 tuổi , Thụy Lương, Thái Thụy, Thái Bình
    trả lời Ông Đoàn Tiến Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần May Nam Hà


    Theo tôi để đẩy mạnh việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp phải giải quyết rất nhiều vấn đề từ thị trường, khách hàng đến công nghệ, thiết bị, nguồn nhân lực, quản trị doanh nghiệp, về cơ chế chính sách...bởi bất kỳ một vấn đề nào ở trên nếu không giải quyết được sẽ là một nút thắt cản trở sự phát triển của doanh nghiệp.


  • câu hỏi
    Theo ông trong thời gian tới, Việt Nam cần có những chính sách gì để tiếp tục thúc đẩy năng suất, chất lượng cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam?
    Nguyễn Quốc Trường , 46 tuổi , Hiệp Hòa, Bắc Giang
    trả lời  Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

    Việt Nam cần có 3 nhóm chính sách:

    Thứ nhất, cần có cải cách mạnh mẽ chính sách hiện hành để cắt giảm tối đa chi phí tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp. Như vậy, ngay lập tức sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất.



    Thứ hai, hỗ trợ trực tiếp cho năng lực của doanh nghiệp trong việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh để nâng cao năng suất. Các chính sách này thường bao gồm ưu đãi về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng hạ tầng như logistic, viễn thông, đường sá…

    Thứ ba, xây dựng một thể chế giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu, cung cầu của thị trường. Ví dụ, các chính sách rất quan trọng về phá sản, giải thể phải thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Đây là cách nhanh nhất để doanh nghiệp tái cơ cấu, nâng cao năng suất, thay đổi chiến lược kinh doanh. Ví dụ, thị trường lao động phải thực sự linh hoạt, thuê lao động theo nguyên tắc thị trường, tôn trọng tự do lao động. Một số quy định cứng nhắc về giảm giờ làm, nâng lương tối thiểu… cũng có thể làm giảm năng suất.

    BBT Báo Đất Việt


THÔNG TIN ĐẶT CÂU HỎI
Họ tên
Email
Địa chỉ
Tuổi
Nội dung câu hỏi

 
Sự Kiện