Mạng lưới radar canh giữ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam

Thứ Năm, 05/09/2013 16:28

() - Để đối phó với những nguy cơ trong chiến tranh hiện đại, đặc biệt là chiến đấu cơ tàng hình, ngoài mạng lưới radar hiện có, Không quân Việt Nam tiếp tục hiện đại hóa lực lượng radar của mình bằng việc mua sắm thêm thiết bị mới.

Hồi đầu tháng 8/2013, xuất hiện thông tin Việt Nam đã nhập khẩu 20 đài radar RV-01 Vostok -E do Belarus sản xuất. Nếu thông tin này chính xác thì RV-01 Vostok -E là radar hiện đại nhất trong Không quân Việt Nam hiện nay.
Hồi đầu tháng 8/2013, xuất hiện thông tin Việt Nam đã nhập khẩu 20 đài radar RV-01 Vostok -E do Belarus sản xuất. Nếu thông tin này chính xác thì RV-01 Vostok -E là radar hiện đại nhất trong Không quân Việt Nam hiện nay.
RV1 Vostok - E được sử dụng nhằm mục đích phát hiện và cảnh báo sớm các mục tiêu trên không, xác định tọa độ, tầm xa, góc phương vị và vận tốc radial, tự động bám và theo dõi mục tiêu, vẽ quỹ đạo đường bay, xác định chủng loại mục tiêu tự động, truyền tải và chia sẻ thông tinh cho hệ thống điều hành tác chiến tích hợp với đài RV1 Vostok - E. Là sản phẩm được chế tạo dựa trên những tính năng kỹ thuật của P-18 (Liên Xô phát triển), nhưng Vostok - E vượt trội hơn nhiều lần do được ứng dụng các thành tựu hiện đại của công nghệ radar, công nghệ kỹ thuật số và những giải pháp thiết kế - công nghệ tiên tiến.
RV1 Vostok - E được sử dụng nhằm mục đích phát hiện và cảnh báo sớm các mục tiêu trên không, xác định tọa độ, tầm xa, góc phương vị và vận tốc radial, tự động bám và theo dõi mục tiêu, vẽ quỹ đạo đường bay, xác định chủng loại mục tiêu tự động, truyền tải và chia sẻ thông tinh cho hệ thống điều hành tác chiến tích hợp với đài RV1 Vostok - E. Là sản phẩm được chế tạo dựa trên những tính năng kỹ thuật của P-18 (Liên Xô phát triển), nhưng Vostok - E vượt trội hơn nhiều lần do được ứng dụng các thành tựu hiện đại của công nghệ radar, công nghệ kỹ thuật số và những giải pháp thiết kế - công nghệ tiên tiến.
RV1 Vostok - E có thể phát hiện mục tiêu trong điều kiện nhiễu điện từ cao, với mục tiêu không sử dụng công nghệ stealth là 360 km, có sử dụng công nghệ tàng hình là 57 km. Theo khoảng cách, RV1 Vostok - E có thể đo được khoảng cách các vật thể bay chính xác ở khoảng 200 km, góc tầm đến 5,5 độ và vận tốc radial là 10m/s. Số lượng các tín hiệu do thám tính theo tần số có thể từ 4 – 16 tần số VHF khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng.
RV1 Vostok - E có thể phát hiện mục tiêu trong điều kiện nhiễu điện từ cao, với mục tiêu không sử dụng công nghệ stealth là 360 km, có sử dụng công nghệ tàng hình là 57 km. Theo khoảng cách, RV1 Vostok - E có thể đo được khoảng cách các vật thể bay chính xác ở khoảng 200 km, góc tầm đến 5,5 độ và vận tốc radial là 10m/s. Số lượng các tín hiệu do thám tính theo tần số có thể từ 4 – 16 tần số VHF khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Radar có thể theo dõi đến 120 mục tiêu trong thời gian quét 10s liên tiếp. Với các máy bay có trang thiết bị trinh sát hiện đại như AWACS, khoảng cách để phát hiện được đài phát RV1 Vostok - E là nhỏ hơn 203km. Một điểm đặc biệt là radar có thể chế áp được đến hơn 40% mật độ gây nhiễu cực đại của đối phương.
Radar có thể theo dõi đến 120 mục tiêu trong thời gian quét 10s liên tiếp. Với các máy bay có trang thiết bị trinh sát hiện đại như AWACS, khoảng cách để phát hiện được đài phát RV1 Vostok - E là nhỏ hơn 203km. Một điểm đặc biệt là radar có thể chế áp được đến hơn 40% mật độ gây nhiễu cực đại của đối phương.
Đặc điểm nổi bật của radar RV1 Vostok - E thông qua trạm chỉ huy điện tử có thể trao đổi và tích hợp thông tin, tạo thành một hệ thống trinh sát, cảnh báo sớm liên hoàn đồng bộ thống nhất, đồng thời cũng có thể trở thành đài radar dẫn bắn các phương tiện hỏa lực khi tích hợp với các hệ thống radar tên lửa khác khi tác chiến trong điều kiện mật độ nhiễu cao nhất. Đây là một tính chất kỹ thuật rất phù hợp với hệ thống phòng không của các nước có tiềm lực quân sự nhỏ hơn so với đối phương. Hệ thống phòng không sẽ cơ động linh hoạt, trận địa biến đổi liên tục nhưng mục tiêu vẫn bị kiểm soát chặt chẽ và tăng cường khả năng sống còn của hệ thống phòng ngự tác chiến phòng không.
Đặc điểm nổi bật của radar RV1 Vostok - E thông qua trạm chỉ huy điện tử có thể trao đổi và tích hợp thông tin, tạo thành một hệ thống trinh sát, cảnh báo sớm liên hoàn đồng bộ thống nhất, đồng thời cũng có thể trở thành đài radar dẫn bắn các phương tiện hỏa lực khi tích hợp với các hệ thống radar tên lửa khác khi tác chiến trong điều kiện mật độ nhiễu cao nhất. Đây là một tính chất kỹ thuật rất phù hợp với hệ thống phòng không của các nước có tiềm lực quân sự nhỏ hơn so với đối phương. Hệ thống phòng không sẽ cơ động linh hoạt, trận địa biến đổi liên tục nhưng mục tiêu vẫn bị kiểm soát chặt chẽ và tăng cường khả năng sống còn của hệ thống phòng ngự tác chiến phòng không.
Ngoài hệ thống radar RV1 Vostok - E, hiện Việt Nam đang sở hữu hàng loạt hệ thống radar hiện đại khác, trong đó có P-35. Hệ thống radar cảnh giới P-35 do Liên Xô sản xuất từ những năm 1950 thiết kế để phát hiện sớm các mục tiêu đường không nhằm báo động sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng pháo – tên lửa. P-35 được thiết kế để phát hiện và theo dõi mọi mục tiêu trên không ở tầm xa đến 350km, độ cao tối đa 25km. P-35 được trang bị cho phòng không Việt Nam từ trong kháng chiến chống Mỹ và cho tới ngày nay nó vẫn đóng vai trò chủ lực trong lực lượng cảnh giới bảo vệ bầu trời tổ quốc.
Ngoài hệ thống radar RV1 Vostok - E, hiện Việt Nam đang sở hữu hàng loạt hệ thống radar hiện đại khác, trong đó có P-35. Hệ thống radar cảnh giới P-35 do Liên Xô sản xuất từ những năm 1950 thiết kế để phát hiện sớm các mục tiêu đường không nhằm báo động sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng pháo – tên lửa. P-35 được thiết kế để phát hiện và theo dõi mọi mục tiêu trên không ở tầm xa đến 350km, độ cao tối đa 25km. P-35 được trang bị cho phòng không Việt Nam từ trong kháng chiến chống Mỹ và cho tới ngày nay nó vẫn đóng vai trò chủ lực trong lực lượng cảnh giới bảo vệ bầu trời tổ quốc.
Hệ thống radar cảnh giới P-18 do Liên Xô phát triển từ những năm 1970 có tầm trinh sát lên tới 250km, độ cao tối đa 35km. Đài P-18 nếu được nâng cấp hiện đại hóa lên tiêu chuẩn P-18MA có khả năng bắt mục tiêu máy bay tàng hình ở cự ly vài chục km. Hiện nay, đài cảnh giới P-18 vẫn còn phục vụ tích cực trong lực lượng phòng không Việt Nam. Trong ảnh là đài P-18 đặt trên đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa) làm nhiệm vụ phát hiện, báo động sớm mọi kẻ địch trên không.
Hệ thống radar cảnh giới P-18 do Liên Xô phát triển từ những năm 1970 có tầm trinh sát lên tới 250km, độ cao tối đa 35km. Đài P-18 nếu được nâng cấp hiện đại hóa lên tiêu chuẩn P-18MA có khả năng bắt mục tiêu máy bay tàng hình ở cự ly vài chục km. Hiện nay, đài cảnh giới P-18 vẫn còn phục vụ tích cực trong lực lượng phòng không Việt Nam. Trong ảnh là đài P-18 đặt trên đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa) làm nhiệm vụ phát hiện, báo động sớm mọi kẻ địch trên không.
Đài radar đo độ cao RPV-16 (Liên Xô phát triển) có nhiệm vụ trinh sát, phát hiện, bám sát mục tiêu trên không nhằm quản lý vùng trời, kịp thời phát hiện địch trên không và thông báo cho các đơn vị hỏa lực phòng không. Ngoài ra, PRV-16 còn có thể làm nhiệm vụ dẫn đường cho máy bay chiến đấu bảo vệ vùng trời.
Đài radar đo độ cao RPV-16 (Liên Xô phát triển) có nhiệm vụ trinh sát, phát hiện, bám sát mục tiêu trên không nhằm quản lý vùng trời, kịp thời phát hiện địch trên không và thông báo cho các đơn vị hỏa lực phòng không. Ngoài ra, PRV-16 còn có thể làm nhiệm vụ dẫn đường cho máy bay chiến đấu bảo vệ vùng trời.
Đài radar cảnh giới P-14 do Liên Xô phát triển từ cuối những năm 1950, có khả năng phát hiện mục tiêu trên không ở tầm 400km, độ cao 30km.
Đài radar cảnh giới P-14 do Liên Xô phát triển từ cuối những năm 1950, có khả năng phát hiện mục tiêu trên không ở tầm 400km, độ cao 30km.
Đài radar cảnh giới “khủng” của phòng không Việt Nam 55Zh6UE NEBO-UE (Nga) được thiết kế để phát hiện, bám sát tự động, phân biệt địch – ta, nhận dạng kiểu loại và cung cấp các tham số tọa độ và đường bay các loại mục tiêu bay (gồm cả tên lửa đạn đạo). NEBO-UE phát hiện máy bay chiến đấu có diện tích phản hồi radar RCS 2,5 m2 bay ở độ cao 500m ở cự ly 65km, nếu bay ở độ cao 10km cự ly phát hiện tới 310km, lên đến 400km nếu độ cao hành trình của mục tiêu ở mức 20km.
Đài radar cảnh giới “khủng” của phòng không Việt Nam 55Zh6UE NEBO-UE (Nga) được thiết kế để phát hiện, bám sát tự động, phân biệt địch – ta, nhận dạng kiểu loại và cung cấp các tham số tọa độ và đường bay các loại mục tiêu bay (gồm cả tên lửa đạn đạo). NEBO-UE phát hiện máy bay chiến đấu có diện tích phản hồi radar RCS 2,5 m2 bay ở độ cao 500m ở cự ly 65km, nếu bay ở độ cao 10km cự ly phát hiện tới 310km, lên đến 400km nếu độ cao hành trình của mục tiêu ở mức 20km.
Hệ thống trinh sát điện từ thụ động Kolchuga – lính “chuyên nghiệp” bắt máy bay tàng hình của phòng không Việt Nam. Theo tính toán, nếu hệ thống được đặt ở độ cao 100m (so với mặt đất) và mục tiêu bay ở độ cao 10km thì tầm phát hiện mục tiêu tới 450km, còn mục tiêu bay ở độ cao 20km thì cự ly phát hiện đạt 620km.
Hệ thống trinh sát điện từ thụ động Kolchuga – lính “chuyên nghiệp” bắt máy bay tàng hình của phòng không Việt Nam. Theo tính toán, nếu hệ thống được đặt ở độ cao 100m (so với mặt đất) và mục tiêu bay ở độ cao 10km thì tầm phát hiện mục tiêu tới 450km, còn mục tiêu bay ở độ cao 20km thì cự ly phát hiện đạt 620km.
Ngoài các hệ thống radar cảnh giới, phòng không Việt Nam còn có “mắt thần” nằm trong thành phần hệ thống tên lửa phòng không. Trong ảnh là đài radar điều khiển hỏa lực SNR-75 của hệ thống tên lửa tầm cao S-75. SNR-75 làm nhiệm vụ bám mục tiêu và dẫn đường cho tên lửa đánh chặn mục tiêu.
Ngoài các hệ thống radar cảnh giới, phòng không Việt Nam còn có “mắt thần” nằm trong thành phần hệ thống tên lửa phòng không. Trong ảnh là đài radar điều khiển hỏa lực SNR-75 của hệ thống tên lửa tầm cao S-75. SNR-75 làm nhiệm vụ bám mục tiêu và dẫn đường cho tên lửa đánh chặn mục tiêu.
Đài radar cảnh giới P-12 (hệ thống S-75) có tầm trinh sát 275km, làm nhiệm vụ cung cấp thông tin mục tiêu máy bay địch chuyển về radar điều khiển hỏa lực SNR-75.
Đài radar cảnh giới P-12 (hệ thống S-75) có tầm trinh sát 275km, làm nhiệm vụ cung cấp thông tin mục tiêu máy bay địch chuyển về radar điều khiển hỏa lực SNR-75.
Đài radar đo độ cao mục tiêu PRV-11 (hệ thống S-75). Loại radar này cũng nằm trong thành phần hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp – trung S-125 Pechora của quân đội ta.
Đài radar đo độ cao mục tiêu PRV-11 (hệ thống S-75). Loại radar này cũng nằm trong thành phần hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp – trung S-125 Pechora của quân đội ta.
Đài radar điều khiển hỏa lực SNR-125 của hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp – trung S-125 Pechora. Nó làm nhiệm vụ bám mục tiêu và điều khiển tên lửa tấn công máy bay địch. Một số hệ thống tên lửa S-125 của Việt Nam đã được nâng cấp lên biến thể S-125-2TM. Qua đó, hệ thống radar nâng cấp S-125-2TM với khả năng dẫn 2 tên lửa đánh chặn mục tiêu thay vì 1 tên lửa như hệ thống cũ, tầm trinh sát 100km. Trong ảnh là đài S-125-2TM của phòng không Việt Nam
Đài radar điều khiển hỏa lực SNR-125 của hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp – trung S-125 Pechora. Nó làm nhiệm vụ bám mục tiêu và điều khiển tên lửa tấn công máy bay địch. Một số hệ thống tên lửa S-125 của Việt Nam đã được nâng cấp lên biến thể S-125-2TM. Qua đó, hệ thống radar nâng cấp S-125-2TM với khả năng dẫn 2 tên lửa đánh chặn mục tiêu thay vì 1 tên lửa như hệ thống cũ, tầm trinh sát 100km. Trong ảnh là đài S-125-2TM của phòng không Việt Nam
Đài radar chiếu xạ và điều khiển hỏa lực 30N6E của hệ thống tên lửa phòng không hiện đại nhất Việt Nam S-300PMU-1. Đài 30N6E có khả năng theo dõi cùng lúc 12 mục tiêu và dẫn tên lửa bắn hạ 6 mục tiêu cùng lúc. (Tổng hợp)
Đài radar chiếu xạ và điều khiển hỏa lực 30N6E của hệ thống tên lửa phòng không hiện đại nhất Việt Nam S-300PMU-1. Đài 30N6E có khả năng theo dõi cùng lúc 12 mục tiêu và dẫn tên lửa bắn hạ 6 mục tiêu cùng lúc. (Tổng hợp)
1/16
 
 
Sự Kiện