Cà Mau, Nghĩ suy và Ước vọng

(Khoa học) - "Cà Mau là mảnh đất của những bài toán khó, những bài học và của những kỷ niệm mà khi nhớ lại như tiếp thêm sức cho tôi" - GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân.

Mấy năm gần đây tôi thường dành những ngày cuối năm về thăm Cà Mau để nhìn và suy ngẫm về những đổi thay từ những gì thiên nhiên và con người đã tác động lên vùng đất trẻ này. Cà Mau đối với tôi là mảnh đất của những bài toán khó, những bài học và của những kỷ niệm mà mỗi khi nhớ lại như tiếp thêm sức cho tôi.

Kỷ niệm và những câu hỏi

Ngay sau khi Chương trình khoa học cấp nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long được thành lập, đề tài “Xây dựng bộ bản đồ biến động dòng sông và bờ biển đồng bằng sông Cửu Long” (thời kỳ 1885 – 1985) do PTS. Tô Quang Thịnh (Trung tâm Viễn Thám, Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước) phụ trách được triển khai ngay. Ngày nay ảnh vệ tinh nhiều, định kỳ chụp liên tục, nên việc theo dõi biến động là một nhiệm vụ không khó khăn như lúc đề tài được triển khai.

Từ những tư liệu có được, chúng tôi thống nhất khảo sát sự biến động tại bốn thời điểm 1885, 1940, 1965 và 1985. Hai mẫu bản đồ biến động của mũi Cà Mau lần đầu tiên và trong 100 năm là những tư liệu rất quý và có ý nghĩa. Phía Tây, Mũi được bồi trong khi phía Đông bị xói lở với tốc độ tương đương. Được và Mất này dường như chưa được nhận thức đầy đủ và đúng mức (Hình 1).

Ca Mau, Nghi suy va Uoc vong 
Hình 1. Bồi và lở ở Cà Mau (1885 – 1985) (a) Bồi ở Mũi Cà Mau; (b) Xói lở ở phía Đông

Rừng ngập mặn Cà Mau và rừng tràm U Minh là hai đặc trưng của Bán đảo Cà Mau được thế giới biết đến. Vì là nơi che chở Cách mạng nên cả hai loại rừng bị tàn phá nghiêm trọng trong chiến tranh.

Tám năm sau ngày đất nước thống nhất, rừng ngập mặn gần như đã hồi sinh để rồi sau đó biến mất dần. Nguyên nhân từ đâu, tôi vẫn tự hỏi. Đây là bài toán đặt ra cho khoa học nhưng trước tiên là của quản lý nhà nước (Hình 2).

Ảnh vệ tinh vùng rừng tràm U Minh vào mùa khô tại thời điểm các năm 1973, 1979, 2003 và 2017 cho thấy diện tích rừng tràm thu hẹp lại rất rõ, trong khi diện tích canh tác lúa trên đất rừng tràm liên tục được mở rộng. Những thay đổi này và những trận cháy rừng tràm lớn tiêu hủy hàng trăm ha, làm mỏng tầng than bùn, có nơi gần chạm đáy, liên quan mật thiết với nhau. Một lần nữa cần có câu trả lời về nguyên nhân, và trách nhiệm. (Hình 3).

Ca Mau, Nghi suy va Uoc vong 
Hình 2. Rừng ngập mặn ở Năm Căn và Ngọc Hiển 1973, 1983 và 2010
Ca Mau, Nghi suy va Uoc vong 

Đồng bằng sông Cửu Long là một châu thổ, cao trình mặt đất rất thấp, độ dốc không đáng kể trên toàn đồng bằng. Triều truyền rất sâu vào nội đồng, nhất là vào mùa kiệt, khác với các châu thổ khác trong cả nước. Cà Mau còn là nơi giao thoa giữa hai chế độ triều Biển Đông và Biển Tây và dòng chảy sông Hậu. CT 60-02 và 60-B luôn nhấn mạnh điều này, cần nhớ khi quy hoạch khai thác đồng bằng.  

Mặn và ngọt cùng tồn tại và được người dân Cà Mau khai thác một cách hài hòa theo mùa. Vậy thì “mâu thuẫn mặn – ngọt” bắt nguồn từ đâu? Tại Đầm Dơi, Cái Nước, đã có lúc người dân ra sức đấp đập ngăn mặn để mở rộng diện tích và tăng vụ lúa. Nhưng sau đó cũng chính người dân ở đó lại phá đập do chính mình đã xây để lấy nước mặn nuôi tôm. Nguyên nhân từ đâu? Không làm rõ nguyên nhân mà giải quyết “mâu thuẩn mặn – ngọt” bằng công trình để “ngăn mặn”, “kiểm soát mặn” phải được cân nhắc. Nhiều công trình không bao lâu sau khi xây bị treo vì vô hiệu. Còn châu thổ thì ngày càng bị bao ví, cách biệt và đối đầu với biển.

Một buổi tối năm 1989, tại nhà khách Quân khu 9 (Cần Thơ), Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt triệu tập Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Công Tạn và tôi (1) để nghe ý kiến về đề án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau. Chủ trương ngọt hóa được nhất trí cao. Ý kiến còn khác nhau là khả năng ngọt hóa tới đâu, bước đi và tác động đến môi trường ra sao.

Tôi đã trình bày nhiều tình huống tùy theo số và vị trí các cống được xây dựng và vận hành, được mô phỏng bằng mô hình số. Tôi đã kiến nghị nên ngọt hóa có lộ trình, bắt đầu từ phía Quản lộ Phụng Hiệp đi dần xuống phía Cà Mau, vì còn tùy thuộc vào khả năng tiếp ngọt và cần theo dõi bước chuyển hóa của môi trường từ mặn sang lợ và ngọt. Bước đi còn cần thiết vì sự hoàn tất tất cả các cống và âu thuyền cùng với sự vận hành đồng bộ của các công trình này là điều kiện bắt buộc để mặn không đánh vu hồi và ăn ruỗng vùng ngọt hóa.

Thủ tướng đã lắng nghe và yêu cầu tôi chiếu lại các mô phỏng. Dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau chỉ thành công một nửa về phía sông Hậu, chưa bao giờ được đánh giá, đối với tôi vừa là kỷ niệm vừa là bài học. Một bài học đã trả giá rất đắt, vẫn còn nguyên tính thời sự: tiếng nói phản biện khoa học và sức nặng của guồng máy.

Một kỷ niệm khác là việc bao ví bãi bùn ở Đất Mũi để “nuôi” tôm vào những năm 1989, 1990. Một ngày đầu năm 1991, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho gọi tôi và hỏi có phải tôi đã khuyên ngăn không nên đắp đê bao ví. Tôi xác nhận, trình bày rằng cách làm này đi ngược lại quy luật sinh tồn của cây mắm, và xin chịu trách nhiệm nếu dự báo hậu quả sai. Hai năm sau, tôi nhận được văn bản chỉ thị của Thủ tướng yêu cầu tỉnh Minh Hải giải tỏa bao ví. Cái ngấn trong chiều cao của rừng mắm nhìn thấy rất rõ ở bãi bùn, hậu quả của ba năm bao ví, là hình ảnh nói lên sự cần thiết cái đúng phải được bảo vệ và sẽ có tiếng nói cuối cùng!

Thứ Năm, 24/01/2019 15:44

Sự Kiện