Đề nghị địa phương không phản đối điện than: Đầy đủ là...

(Khoa học) - Trong các năm tới nếu không điều hành quyết liệt sẽ xảy ra thiếu điện trầm trọng.

Tại hội nghị Tổng kết ngành Công thương diễn ra vào hôm 27/12, ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đã có những đề xuất, kiến nghị xung quanh việc phát triển các dự án nguồn điện.

Một trong các kiến nghị của ông Trần Viết Ngãi là đối với những dự án được Chính phủ bố trí trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) và được xây dựng tại các địa phương thì đề nghị những địa phương được bố trí dự án không nên phản đối.

Kiến nghị này của Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam lập tức gây ra nhiều tranh cãi, trong đó nhiều chuyên gia cho rằng đây là đề xuất vô lý và trái với những quy định đã có.

Để rộng đường dư luận, Đất Việt xin trích đăng bài tham luận của ông Trần Viết Ngãi tại Hội nghị tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2019 và triển khai kế hoạch năm 2020 ngành Công thương.

De nghi dia phuong khong phan doi dien than: Day du la...
Một dự án nhiệt điện than tại ĐBSCL. Ảnh: TBKTSG

Khó khăn, vướng mắc của ngành điện

Trong bản tham luận này, ông Trần Viết Ngãi đã đưa ra nhiều khó khăn, vướng mắc của ngành điện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển KT-XH năm 2020 tới năm 2030, gồm: khó khăn trong công tác quy hoạch, vướng mắc trong quy định pháp luật về đầu tư xây dựng , trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng, thu xếp vốn đầu tư, khó khăn do biến đổi khí hậu.

Về những khó khăn và tiềm ẩn rủi ro, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho biết, các nguồn nhiệt điện truyền thống sử dụng than, khí giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo an ninh năng lượng điện tới năm 2030. Tuy nhiên, việc cung cấp than, khí cho phát điện đang gặp rất nhiều khó khăn.

Cụ thể, về cung cấp than: Dự kiến năm 2020 yêu cầu than khoảng 60 triệu tấn; năm 2025 khoảng 70 triệu tấn. Tới năm 2030 khoảng 100 triệu tấn. Trong khi khả năng cung cấp than trong nước chỉ đáp ứng 30 - 35 triệu tấn. Như vậy, nhu cầu than nhập khẩu trở lên cấp bách, trong khi phương án đầu tư xây dựng cảng trung chuyển than vẫn chưa được triển khai.

Về cung cấp khí: Nguồn cung cấp khí cho phát điện từ khí đốt là thành phần quan trọng với tỷ lệ tham gia trong cơ cấu nguồn phát là khoảng 13% về công suất, 18% về sản lượng. Tuy nhiên, những năm gần đây nguồn khí trong nước đã dần suy giảm, dự báo còn tiếp tục suy giảm trong thời gian tới.

Các dự án khí tiến độ triển khai chậm so với dự kiến.

Các dự án điện sử dụng khí hóa lỏng LNG tại Sơn Mỹ (Bình Thuận); Cà Ná (Ninh Thuận); Tam Phước (Long An); Bạc Liêu… đang chuẩn bị đầu tư. Tuy nhiên, việc phát triển các dự án khí LNG rất phức tạp, cần phải đồng bộ giữa các khâu, trong khi Việt Nam chưa có kinh nghiệm. Trong Quy hoạch điện VIII, cần tính toán nhu cầu cần thiết trong mối quan hệ với các dự án nhiệt điện khí, các nhà máy điện than. Tránh tình trạng đưa ra tràn lan, gây lãng phí nguồn lực.

Về cung cấp dầu: Trong các năm tới, do các nguồn điện than vào chậm, cần phải tăng cường huy động nguồn điện chạy dầu; nhu cầu dầu có thể lên đến 1-2 triệu tấn/năm. EVN cần tính toán kỹ về phương án nhập và tài chính, tránh trường hợp phải tăng giá điện đột xuất hoặc EVN thua lỗ do phải tăng cường phát điện từ dầu.

Bên cạnh đó, hầu hết các dự án chủ yếu là các dự án nhiệt điện than trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) đều bị chậm tiến độ từ 2-4 năm trong các năm tới nếu không điều hành quyết liệt sẽ xẩy ra thiếu điện trầm trọng.

Đặc biệt, trong 5 năm tới (2019-2023), các nguồn điện dự kiến hoàn thành theo quy hoạch là 37.700 MW. Trong đó, có 30 dự án nhiệt điện than, khí với tổng công suất khoảng 28.800 MW. Đến nay chỉ có 8 dự án nhiệt điện, với tổng công suất 8.460 MW đã khởi công và đang triển khai xây dựng. Còn 22 dự án nhiệt điện với tổng công suất 20.000 MW chưa được khởi công xây dựng nên không thể hoàn thành trong 5 năm tới. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hệ thống điện từ chỗ có dự phòng (khoảng 20%) trong các năm 2015-2017, đến nay hầu như không còn dự phòng và sang giai đoạn 2021-2025 khả năng xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn điện.

Một số giải pháp đảm bảo cung ứng điện đến năm 2030

Từ những khó khăn, vướng mắc của ngành điện, ông Trần Viết Ngãi đã đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cung ứng điện đến năm 2030:

Một là: Các chủ đầu tư phải đảm bảo tiến độ các dự án nguồn điện lớn trong giai đoạn 2021-2025 và sau năm 2025 được phê duyệt trong Quy hoạch điện VII.

Hai là: Tăng cường nhập khẩu điện từ Trung Quốc và Lào, đồng thời bổ sung quy hoạch các công trình lưới điện 220 kV liên quan đến mua điện nhập khẩu.

Ba là: Đôn đốc, đảm bảo tiến độ của các mỏ khí và cụm nhiệt điện miền Trung, vận hành các năm 2023-2024.

Bốn là: Tăng cường năng lực khai thác, tăng khả năng cấp than cho sản xuất điện. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ giao các cơ quan chức năng xem xét, nghiên cứu việc các đơn vị phát điện được nhập khẩu trực tiếp, nhằm đảm bảo đủ than cho các nhà máy điện.

Năm là: PVN tiếp tục chủ động tìm kiếm các nguồn khí mới để bổ sung cho các nguồn khí hiện hữu tại khu vực Đông Nam bộ và Tây Nam bộ.

Sáu là: Tăng cường thực hiện các giải pháp kiểm soát nhu cầu phụ tải như: Tăng cường tiết kiệm điện, triển khai mạnh mẽ các chương trình kiểm toán năng lượng, tăng cường thực hiện chương trình quản lý nhu cầu điện (DSM), ưu tiên tại khu vực miền Nam.

Bảy là: Đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện. Có biện pháp quyết liệt theo quy định của pháp luật để giải quyết dứt điểm những khó khăn trong giải phóng mặt bằng các dự án điện, đặc biệt là các dự án nguồn điện trọng điểm, các dự án lưới điện truyền tải quan trọng phục vụ giải tỏa công suất các trung tâm điện lực.

Tám là: Thực hiện giá năng lượng theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội.

Giá điện cần điều chỉnh thích hợp để khuyến khích thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước bởi lẽ: Bất kỳ nhà đầu tư nào khi đầu tư vào dự án điện đều nhìn vào tỷ suất lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn.

Các dự án điện như nhiệt điện than, khí là những dự án có công nghệ, kỹ thuật phức tạp, máy móc thiết bị đòi hỏi chất lượng cao, thời gian xây dựng kéo dài, lợi nhuận thu được không cao. Do đó, nếu không có giá điện thỏa đáng thì không thể thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Giá điện là yếu tố quyết định cho việc đầu tư vào nguồn và lưới điện, các nước đang phát triển trên thế giới giai đoạn đầu đều áp dụng giá điện cao để thu hút đầu tư, sau khi đất nước phát triển ổn định giá điện sẽ được điều chỉnh giảm xuống.

Việt Nam có nền kinh tế đa dạng nhiều ngành nghề, lĩnh vực cần lấy chỗ dễ bù chỗ khó, chỗ lãi bù chỗ lỗ, chỗ lợi nhuận cao bù chỗ lợi nhuận thấp để điều chỉnh mặt bằng giá chung của Nhà nước, từ đó ưu tiên cho điều chỉnh giá điện ở mức độ ngang giá khu vực, mới đủ tiền cho việc vay vốn, huy động vốn, kêu gọi nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư các dự án điện như đã nêu trên.

Đề nghị các địa phương không phản đối dự án điện than

Nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập, vượt qua các khó khăn, vướng mắc để bảo đảm phát triển bền vững, cung cấp đủ điện cho đất nước, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ quan tâm giải quyết một số nội dung cấp bách sau:

Thứ nhất, chỉ đạo các bộ, ngành rà soát tổng hợp để kiến nghị Quốc hội sửa đổi bổ sung các luật như: Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Khoáng sản, Luật Năng lượng Nguyên tử, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các luật liên quan đến nội dung và phạm vi điều chỉnh đến ngành năng lượng. Nhất là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản và tài chính, xây dựng bổ sung các nghị định hướng dẫn thống nhất, tránh mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật, giữa các cơ quan ban hành để tránh chồng chéo; phù hợp với thực tiễn phát triển, đồng bộ trong các khâu, thực hiện và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án năng lượng.

Thứ hai, giao các bộ, cơ quan liên quan rà soát, điều chỉnh và sớm ban hành các quy hoạch liên quan đến phát triển năng lượng (theo Luật Quy hoạch 2017), nhất là Quy hoạch tổng thể về năng lượng Quốc gia; Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia; Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt Quốc gia; Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản (trong đó có than)...

Thứ ba, ban hành Chỉ thị tăng cường áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2020-2025) với chỉ tiêu tiết kiệm điện năm 2020 bằng 2%, tới năm 2025 là 5% điện thương phẩm; nếu giảm 2% mỗi năm tiết kiệm được 5 tỷ kWh, làm lợi cho Nhà nước được hàng nghìn tỷ đồng.

Thứ tư, giải quyết, chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thu xếp đủ vốn cho các dự án điện.

Theo đó: Thực hiện bảo lãnh Chính phủ vốn vay, hoặc trái phiếu doanh nghiệp đối với các dự án năng lượng có hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Cho phép các ngân hàng thương mại trong nước cho các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam vay vốn để đầu tư các dự án nguồn và lưới điện được phép vượt các quy định về giới hạn tỷ lệ an toàn tín dụng khi cho vay.

Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện lộ trình thoái vốn, cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm thu hồi vốn, đáp ứng yêu cầu bổ sung vốn chủ sở hữu và bổ sung vốn cho đầu tư các dự án đầu tư xây dựng.

Thứ năm, giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn 2020-2025, trong đó có một số nội dung chính:

Chỉ đạo chủ đầu tư các dự án nguồn điện được phê duyệt trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh), nhất là các dự án khu vực miền Nam (Sông Hậu 1, Long Phú 1, Duyên Hải 2), đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào vận hành.

Đề nghị Thủ tướng sớm phê duyệt bổ sung quy hoạch dự án ThangLong Wind điện gió ngoài khơi (công suất 3.400 MWW) của Tập đoàn Enterprize Enegy - Đây là dự án năng lượng tái tạo có hiệu quả cao, giai đoạn đầu dự kiến khởi công năm 2020 hoàn thành 2023, bổ sung 4 tỷ kWh, sau đó mỗi năm bổ sung 4 tỷ kWh; đến năm 2027 hoàn thành 3.400MW cung cấp 20 tỷ kWh giờ cho hệ thống điện Việt Nam. Số giờ phát điện trong năm 6.000 giờ, ổn định 24/24, tổng vốn đầu tư 11,9 tỷ USD, mọi việc chủ đầu tư đã thu xếp xong, cần được Thủ tướng quan tâm giải quyết.

Nhiệt điện than hiện tại chỉ chiếm 36,1% (tương đương khoảng 20.000 MW công suất trong hệ thống điện quốc gia) so với các nước trên thế giới là con số nhỏ bé, của họ lên tới hàng trăm nghìn MW, nước ít nhất 200.000 MW đến 400.000 MW, nước nhiều lên đến 700.000 MW. Hơn nữa sử dụng công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường. Do vậy, hiện tại một số nước trên thế giới hạn chế phát triển nhiệt điện than với công nghệ lạc hậu, còn hiện nay nhiệt điện than đã dùng công nghệ hiện đại, sử dụng lò hơi siêu tới hạn và trên siêu tới hạn đã hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường.

Trong nhiều năm qua và hiện tại nhiệt điện than ở Việt Nam đang đóng vai trò chủ lực, do vậy, những dự án được Chính phủ bố trí trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) và được xây dựng tại các địa phương thì đề nghị những địa phương được bố trí dự án không nên phản đối để đảm bảo mục tiêu đến năm 2030 cả nước đạt được công suất 130.000 MW điện.

Kiên quyết thu hồi những dự án chậm tiến độ, giao chủ đầu tư khác thực hiện.

Thứ sáu, chỉ đạo, thực hiện các giải pháp đáp ứng nhu cầu than, đảm bảo chất lượng và số lượng ổn định lâu dài cho sản xuất điện:

Giao Bộ Công thương lập đề án xây dựng và quy trình vận hành kho dự trữ quốc gia về than; tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách nhập khẩu than, đầu tư ra nước ngoài khai thác than.Sớm có chỉ đạo về phương án xây dựng cảng trung chuyển than nhập khẩu, các trung tâm quản lý than, kho bãi chứa và pha trộn than, phát triển đội tàu vận chuyển nội địa/ven biển chuyên dụng phù hợp cho việc vận chuyển, bốc dỡ than từ kho về các nhà máy nhiệt điện than.

Thứ bảy, giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp bảo đảm cung cấp đủ dầu mỏ, khí đốt: Chỉ đạo chủ đầu tư các dự án đưa khí từ mỏ khí và các dự án điện đồng bộ sớm hoàn thiện các thủ tục, đẩy nhanh tiến độ xây dựng để có thể đưa vào sử dụng từ năm 2023 - 2024.

Thứ tám, Chính phủ đưa ra quyết định tổ chức đấu thầu điện mặt trời là hết sức kịp thời, bởi vì điện mặt trời cần lưu ý chất lượng tấm pin mặt trời, nếu chất lượng kém, giá rẻ, tuổi thọ ngắn thì trong ít năm tới trở thành phế thải gây ô nhiễm môi trường. Kinh nghiệm các nước trên thế giới, vì do điện mặt trời, điện gió không ổn định trong quá trình phát điện nối vào hệ thống điện quốc gia nên được xây dựng hệ thống lưu điện (hoặc dùng một nguồn điện LNG, thủy điện tích năng, lưu điện để đảm bảo tần số, điện áp, phụ tải ổn định, khi nối vào hệ thống điện quốc gia).

Thứ chín, Việt Nam có bờ biển dài 3.200 km có tiềm năng về điện gió ngoài khơi. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đẩy mạnh phát triển điện gió ngoài khơi, đề nghị Chính phủ có chủ trương cho phép nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư điện gió ngoài khơi - Đây nguồn năng lượng tái tạo chủ lực, bởi vì có hiệu quả vượt trội, số giờ vận hành cao, điện lượng phát ra lớn không thua kém các dự án nhiệt điện than, khí có thể là nguồn năng lượng tái tạo chủ chốt thay thế được năng lượng truyền thống.

Minh Thái

Thứ Tư, 08/01/2020 14:00

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện