Đổi rừng phòng hộ, rừng tự nhiên lấy hồ thủy lợi?

(Khoa học) - Mất rừng đang bị coi là nguyên nhân khiến tình trạng sạt lở ở khu vực miền Trung càng thêm trầm trọng...

Nhiều đợt lũ lụt liên tiếp, sạt lở lấy đi sinh mạng của hàng chục con người… tại miền Trung gióng thêm hồi chuông cảnh tỉnh về sự khốc liệt của các hiện tượng thời tiết cực đoan, những hậu quả khôn lường của biến đổi khí hậu. Dù sẽ cần rất nhiều nghiên cứu, tài liệu để chứng minh một trong những nguyên nhân quan trọng của thực trạng đáng buồn kể trên là do tình trạng mất rừng tự nhiên, nhưng rõ ràng, khi mục tiêu 1 tỷ cây xanh cho Việt Nam đã được phát biểu đàng hoàng và đầy trách nhiệm tại nghị trường Quốc hội, việc trồng và giữ rừng đương nhiên được coi là một nhiệm vụ quan trọng.

Những bàn thảo về hai dự án hồ chứa nước Sông Than (Ninh Thuận) và Bản Mồng (Nghệ An) đã làm nóng nghị trường, có lẽ cũng bởi vấn đề giữ rừng. Theo Báo cáo tới Quốc hội về hai dự án trên, tại dự án hồ chứa nước Sông Than, có 431,76 ha rừng đề xuất chủ trương chuyển mục đích sử dụng. Theo Luật Lâm nghiệp và kết quả phê duyệt 3 loại rừng, dự án có 100,63 ha rừng phòng hộ đầu nguồn và 309,48 ha rừng sản xuất; diện tích rừng quy hoạch đưa ra ngoài 3 loại rừng là 21,65 ha. Tại dự án hồ chứa nước Bản Mồng, diện tích đề nghị chuyển mục đích sử dụng rừng là 1.131,22 ha (Nghệ An 544,77 ha, Thanh Hóa 586,45 ha). Trong đó, rừng phòng hộ đầu nguồn sẽ chuyển đổi là 312,95 ha; rừng sản xuất là 661,08 ha; rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp là 157,19 ha.

Doi rung phong ho, rung tu nhien lay ho thuy loi?
Mất rừng đang bị coi là nguyên nhân làm tình trạng sạt lở càng thêm trầm trọng. Ảnh minh họa

Mức độ tác động đến rừng rõ ràng hơn trong phần thông tin về dự án hồ chứa nước Bản Mồng. Thông tin chính thức cho thấy, diện tích rừng tự nhiên phải chuyển đổi ở dự án Bản Mồng là 662,55 ha. Dù trấn an dư luận đó là những diện tích rừng nghèo, nghèo kiệt thì vẫn vấp phải hai thắc mắc. Đầu tiên, vì lẽ nào mà diện tích rừng lớn đến như vậy trở nên nghèo kiệt? Sẽ là một kịch bản phi lý nếu do những vấn đề yếu kém trong quản lý, rừng tự nhiên đã bị khai thác đến mức nghèo, nghèo kiệt, để rồi, một lần nữa, nó dễ dàng bị mang ra đánh đổi bởi hiện trạng của mình.

Quan trọng hơn, về khả năng giữ nước và giảm sạt lở, rừng nghèo kiệt đang được đánh giá là có nhiều tác dụng hơn rừng trồng. Những thảm, tầng thực vật phía dưới không chỉ là môi trường cho các loại sinh vật nhỏ, chim chóc, còn là cái neo giữ nước và giữ đất. Thậm chí, đã xuất hiện đề xuất không nên coi rừng sản xuất là rừng, với lý do loại rừng này không có các chức năng điều tiết và giữ nước như rừng tự nhiên, kể cả rừng tự nhiên nghèo kiệt.

Đương nhiên, trong tất cả các dự án dạng này, câu thần chú ‘trồng rừng thay thế’ luôn được đưa ra, cứ như thể có một phép thần nào đó sẽ biến những diện tích rừng trồng lớn nhanh như Thánh Gióng để rồi đảm đương được chức năng, nhiệm vụ của rừng thật sự đã bị phá đi. Mà dẫu có vậy, hơn 400 ha rừng phòng hộ xuất hiện ngay lập tức, chức năng phòng hộ của nó sẽ khác hẳn với nơi mà nó… từng thuộc về. Rừng phòng hộ còn là nơi… sinh thủy. Liệu điều này đã được các vị công bộc mẫn cán tính đến?

Dấu hỏi lớn tiếp tục được đặt ra khi nhìn vào lịch sử hai dự án này. Cả dự án hồ thủy lợi Sông Than và Bản Mồng đều được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội khi nhiều hạng mục đầu tư đã được thực hiện. Lý do bởi hai dự án đều trải qua các lần điều chỉnh quy mô. Băn khoăn nằm ở chỗ có hay không việc đưa ra dự án ở quy mô hạn chế để né tránh các trình tự phê duyệt phức tạp, trong trường hợp này, không phải hoàn toàn vô lý. Và khi dự án Sông Than đã hoàn thành 35% khối lượng công việc, dự án Bản Mồng có thể đặt mốc cơ bản hoàn thành giai đoạn I trong năm 2020, liệu có thể xuất hiện những cái lắc đầu kiên quyết?

Thế nhưng, trong bài trả lời phỏng vấn trên chính số báo này, GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra những thông tin rất đáng chú ý.

Theo đó, dự án hồ thủy lợi Sông Than không có trong quy hoạch Chiến lược phát triển thủy lợi đến năm 2020 và có lẽ, dự án được bổ sung trong giai đoạn sau. Trong khi đó, Bộ Thủy lợi (cũ) đã có khảo sát vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và kết luận vùng này không thể làm hồ lớn được vì không có lượng nước lớn. Mặt khác, theo các thống kê thủy văn, ở vùng này, lượng nước bốc hơi xấp xỉ lượng mưa. Nếu làm hồ chứa thủy lợi lớn, liệu có đủ lượng nước?

Đối với dự án hồ Bản Mồng, dự án được khởi công từ năm 2010, đến 2011 tạm dừng và mãi đến năm 2017 mới tiếp tục. Nếu bức xúc về nguồn nước thì chắc chắn đã phải đầu tư vốn ngay từ ban đầu. Từ đó, vị chuyên gia bày tỏ lo ngại, nếu không thận trọng, “làm xong hồ rồi nhưng diện tích tưới không có”.

Tiếp cận theo góc nhìn chuyên gia, thu hẹp dự án, hạn chế phá rừng là một lựa chọn khoa học nhất. Đặc biệt, khi quyết tâm ‘đóng cửa rừng tự nhiên’ đã được nhiều lần khẳng định, mất đi 1 ha rừng tự nhiên, dù là rừng nghèo kiệt vẫn là điều đi ngược chủ trương này. Đã có một sự lỡ nhịp, nhưng chúng ta vẫn có thể khiến mọi chuyện không đi quá xa…

Chuyển nước là lựa chọn được giới khoa học quan tâm đặt ra như phương cách hóa giải cơn khát ở rất nhiều khu vực, trong đó có cả Đồng bằng sông Cửu Long. Giải pháp này càng nên được cân nhắc tại khu vực miền Trung, với địa hình ngắn, dốc, thoát nước nhanh, giữ nước kém (nếu diện tích rừng tự nhiên, rừng phòng hộ bị thu hẹp). Quả thật, người dân sẽ được hưởng lợi nếu các hồ thủy lợi đi vào vận hành, cung cấp nước tưới cho những diện tích trồng trọt. Nhưng cũng đừng quên, với bất cứ thảm họa, thiên tai nào, chính những người dân ấy sẽ là người đầu tiên hứng chịu. Bài toán đánh đổi ở đây phải tính thêm cả những tham số đó.

Người viết xin được trở lại với câu chuyện ứng xử với thiên nhiên, vấn đề đã nhiều lần được đề cập từ khi thiên tai liên tiếp ‘để mắt’ tới dải đất miền Trung. Tư tưởng “thuận thiên” tưởng như luôn được tâm tâm niệm niệm nhưng nội hàm của nó đang chưa được minh định rõ ràng. Bằng sự tự tin về phương tiện cơ giới, bằng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta có thể xây hồ biến đổi tự nhiên, nhưng không ai có thể khiến hồ đầy nước, cũng như luân chuyển hài hòa dòng nước này đến các địa chỉ cần nó như cách bàn tay vô hình thiên nhiên đang thực hiện. Nhiều hồ chứa nước lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long cạn khô, trơ đáy, nên được xem là bài học nhãn tiền mà nhiệm vụ của các công bộc được người dân tin tưởng, trao quyền là không để viễn cảnh đó lặp lại. Vẫn còn chưa quá muộn!

Khánh Nguyên

Thứ Sáu, 13/11/2020 11:23

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện