Miền Trung sạt lở dù cảnh báo trước, lỗi do đâu?

(Khoa học) - Các hồ chứa thủy lợi đã bị suy yếu về kết cấu hạ tầng, có nguy cơ vỡ nhưng đáng chú ý là sự điều tiết không được quy định rõ. 

Tại Hội thảo thường niên các tổ chức khoa học xã hội do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức mới đây, đại diện Tổng Cục Thủy lợi thông tin loạt số liệu quản lý nguồn nước ở Việt Nam và công tác quản lý, bảo đảm an toàn hồ chứa thủy lợi hiện nay.

Mien Trung sat lo du canh bao truoc, loi do dau?
Miền Trung đồng loạt xả lũ 40 hồ thủy điện, thủy lợi đối phó bão số 9. Ảnh: Hồ Sông Bung 4/Báo Lao Động

Hiện trên cả nước có 7.169 đập, hồ chứa thủy lợi; các hồ chứa đã phát huy hiệu quả phục vụ đa mục tiêu, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh, quốc phòng.  

Tính đến thời điểm hiện tại, cả nước có 6.750 hồ chứa thủy lợi với  tổng dung tích trữ khoảng 14,5 tỷ m3 đã tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp, cấp khoảng 1,5 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành nông nghiệp và của nền kinh tế.

Các hồ chứa thủy lợi được xây dựng tại 45/63 địa phương trên cả nước, bao gồm: 4 hồ chứa quan trọng đặc biệt, trong đó có 3 hồ chứa là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Dầu Tiếng, Cửa Đạt, Tả Trạch), 888 hồ chứa lớn, 1.633 hồ chứa vừa, 4.225 hồ chứa nhỏ; 178 hồ chứa có cửa van điều tiết còn lại là tràn tự do.

Các hồ chứa lớn, vừa do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND cấp tỉnh đầu tư xây dựng được giao cho các Ban QLDA chuyên ngành làm chủ đầu tư thì chất lượng công trình được đảm bảo do chủ đầu tư có trình độ, chuyên môn kỹ thuật về xây dựng thủy lợi.
 
Đối với hồ chứa nhỏ hầu hết do các xã, hợp tác xã, nông trường đầu tư xây dựng thiếu cán bộ chuyên môn, nhiều hồ chứa được xây dựng từ những năm sau chiến tranh với trình độ kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư còn hạn chế dẫn đến chất lượng thiết kế, thi công chưa phù hợp, mức đảm bảo an toàn chưa cao, nhiều hồ chứa do nhân dân tự đắp không có hồ sơ khảo sát thiết kế, kỹ thuật thi công lạc hậu; thiếu kinh phí bảo trì nên bị hư hỏng, xuống cấp, suy giảm công năng phục vụ và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, đặc biệt là trong điều kiện mưa, lũ cực đoan hiện nay.

Giai đoạn từ năm 2003 đến nay, Chính phủ và các địa phương đã đầu tư gần 16.000 tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn cho hơn 800 hồ chứa nước, trong đó, các địa phương đã đầu tư gần 10.800 tỷ đồng cho hơn 560 hồ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư khoảng 5.200 tỷ đồng để nâng cấp 249 hồ chứa.

Tổng hợp từ kết quả báo cáo đánh giá hiện trạng công trình của các địa phương, hiện cả nước còn khoảng 1.200 hồ chứa bị hư hỏng xuống cấp, thiếu khả năng tháo lũ, chưa có nguồn vốn để sửa chữa, nâng cấp, trong đó có 200 hồ chứa hư hỏng nghiêm trọng bị hư hỏng nghiêm trọng, cần đặc biệt quan tâm và phải xử lý cấp bách ngay trong năm 2020. Các hồ chứa này tiềm ẩn nguy cơ cao bị sự cố ảnh hưởng đến an toàn công trình và vùng hạ du đập, đặc biệt khi xuất hiện mưa lũ lớn, cực đoan.

Đáng tiếc là trên cả nước vẫn xảy ra 70 sự cố đập, hồ chứa từ năm 2010 đến nay.

Theo Tổng Cục Thủy lợi, hầu hết các hồ chứa nước nhỏ trong những năm gần đây đều được giao cho UBND cấp huyện, xã, Tổng công ty Cà phê quản lý, song lực lượng cán bộ, công nhân quản lý vận hành không đáp ứng yêu cầu dẫn đến không phát hiện được và kịp thời xử lý các hư hỏng (thấm, nứt, tổ mối trong thân đập).

Một số đơn vị khai thác đập, hồ chứa còn chưa quan tâm đúng mực đến việc vận hành thử các thiết bị cơ khí vận hành tràn xả lũ dẫn đến sự cố kẹt cửa van khi cần vận hành xả lũ.

Công tác kiểm định định kỳ an toàn đập hầu hết chưa được thực hiện, việc khảo sát các ẩn họa, hư hỏng trong thân đập gần như chưa được các địa phương thực hiện, do vậy chưa đánh giá được nguy cơ mất anh toàn.

Tổng Cục Thủy lợi xác định, tình trạng công trình bị hư hỏng xuống cấp ngày càng nghiêm trọng, nhiều công trình đầu mối không đủ khả năng chống lũ, nhất là các hồ chứa nhỏ. Hiện cả nước còn khoảng 1.200 hồ chứa bị hư hỏng nặng, thiếu năng lực chống lũ chưa có nguồn vốn để sửa chữa, nâng cấp, trong đó, có 200 hồ hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng, đe doạ đến tài sản, tính mạng của người dân vùng hạ du, cần đặc biệt quan tâm và xử lý cấp bách.

Bên cạnh đó, Một số tổ chức thủy lợi cơ sở được giao quản lý khai thác các đập, hồ chứa vừa và lớn, trong khi không đảm bảo về năng lực, không có cán bộ chuyên môn phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, quy mô công trình theo quy định.

Một số giải pháp được Tổng Cục Thủy lợi đưa ra gồm:

Thứ nhất, thành lập và chỉ đạo hoạt động của Hội đồng Tư vấn đánh giá an toàn đập, hồ chứa nước; quyết định phương án tích nước và giải pháp bảo đảm an toàn cho đập, hồ chứa thủy lợi bị hư hỏng, xuống cấp thuộc phạm vi quản lý.

Thứ hai, tổ chức kiểm định an toàn đập, hồ chứa thủy lợi: Kiểm định định kỳ 5 năm để phát hiện ẩn họa, khuyết tật công trình; kiểm định đột xuất các đập, hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp, làm cơ sở đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn.

Thứ ba, rà soát, điều chỉnh phương án ứng phó thiên tai, phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp và bố trí các điều kiện cần thiết để thực hiện phương án nhằm ứng phó kịp thời với các tình huống mưa, lũ (trong cả mùa lũ và mùa kiệt) bảo đảm an toàn cho công trình và vùng hạ du đập.

Thứ tư, rà soát, đánh giá khả năng thoát lũ của vùng hạ du các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn; xử lý vi phạm và chỉ đạo khắc phục hiện tượng lấn chiếm, làm co hẹp không gian thoát lũ hạ du đập.
 
Đừng để cảnh báo đúng, trúng về việc sạt lở nhưng vẫn bị bỏ qua

Ông Vũ Trọng Hồng - nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi (cũ), nguyên Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho biết, vấn đề an ninh nguồn nước cần phải được Luật hóa bởi đây là vấn đề hết sức quan trọng nhưng lại thiếu các quy định cụ thể. 

Mien Trung sat lo du canh bao truoc, loi do dau?
Ông Vũ Trọng Hồng -  Nguyên Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam.

An ninh nguồn nước rất quan trọng bởi việc xả lũ, cắt lũ liên quan mật thiết đến phòng, chống thiên tai. Việc sử dụng cấp nước, thải nước, điều tiết nguồn nức cần phải được quy định bằng Nghị định, có hướng dẫn. Muốn Nghị định quy định vấn đề này, cần phải được Luật hóa. 
 
"Về phòng, chống thiên tai chúng ta vẫn nhắc quy luật phải cắt giảm lũ, hồ chứa, hồ chứa thủy điện nhưng không có một quy định cụ thể nào về việc khi nào thì cắt giảm, giảm đến mức nào.

Thậm chí, Nghị định của Chính phủ chỉ quy định một câu chung chung: Phải hạ mực nước dâng bình thường xuống dưới trước mùa lũ. Quy định như vậy mà không có hướng dẫn cụ thể thì rất khó khăn trong công tác quản lý" - ông Hồng cho biết.

Ông Vũ Trọng Hồng cho rằng, cần luật hóa vấn đề "an ninh nguồn nước", quy định trong Luật Bảo vệ Tài nguyên nước, lập Nghị định hướng dẫn cụ thể hóa vấn đề này.

Ví dụ, trong Luật Phòng chống thiên tai, Điều 13 Nội dung phòng ngừa thiên tai và Điều 42 Trách nhiệm quản lý nhà nước của chính phủ, bộ và cơ quan ngang bộ về phòng chống thiên tai thiếu quy định về đánh giá khả năng xảy ra thiên tai trước và sau mùa mưa bão.

Từ vụ việc ở miền Trung, quy hoạch thủy điện là bài học lớn nhất sau câu chuyện thủy điện xả lũ ở miền Trung thời gian qua. Có lẽ trên thế giới không có nước nào phát triển thủy điện nhanh như Việt Nam, thậm chí có lúc người ta nuôi ý định Việt Nam tiến tới đứng đầu thế giới về phát triển năng lượng thủy điện.

Tuy nhiên, dự báo về thủy văn hiện nay ở nước ta còn kém và thiếu sự đầu tư có tầm nhìn. Hiện nay dọc bờ biển có 8 radar và một chiếc tại Sơn La hiện chỉ đo được bão. Thủy văn đo nước cũng chỉ có một số trạm đo. Vị chuyên gia cho rằng, cần mỗi xã một trạm đo thủy văn và từ đó có sự chủ động trong công tác phòng tránh.

"Năng lực thủy văn quá yếu, cần phải được đầu tư để phòng chống, dự báo thật tốt trước thiên tai, chứ không chỉ nặng về cứu hộ cứu nạn như hiện nay" - ông Hồng nhận định.

Bên cạnh đó, ông Hồng cũng lưu ý tới yếu tố con người trong công tác phòng, chống thiên tai. 

"Trong thành viên Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai toàn là trưởng các bộ phận, không hề có chuyên gia nào. Một vấn đề lớn là sạt lở đất hiện nay, rồi các tai họa khác như lũ ống lũ quét, phải xây dựng đội ngũ chuyên gia thật mạnh mới có thể dự báo được" - ông Hồng nhấn mạnh.

Ông nhớ lại việc Viện Địa chất và khoáng sản đã từng cảnh báo ở Thừa Thiên-Huế bằng bản đồ địa chất về thời điểm, khu vực bị sạt lở. Lực giữ ở đây khu vực này đã kém do đất sét bị phong hóa vì phá rừng, mất thảm thực vật. Khi tích cực xây thủy điện, phá rừng đã làm cho đất bị phong hóa, từ phong hóa làm thay đổi kết cấu của đất, lực giữ giảm đi, chưa kể mưa dồn mạnh hơn vì không còn dòng chảy mặt, trọng lượng tăng lên, lực giữ kém nên mới xảy ra sạt lở...

"Khi phê duyệt thủy điện Rào Trăng 3, họ có đề nghị với tỉnh Thừa Thiên-Huế vấn đề này, tuy nhiên, UBND tỉnh đã không chủ trì việc này mà giao cho Sở Công Thương, Sở nghe doanh nghiệp trình bày và giao cho doanh nghiệp quyết định" - ông Hồng cho biết.

"Đợt này ở miền Trung đã bị rất nặng, chúng ta bất ngờ khi tình trạng sạt trượt mạnh như thế nhưng hóa ra, Viện Nghiên cứu Khoáng sản và Địa chất đã có báo cáo rồi, báo cáo từ 2019, đến tháng 6/2020 đưa ra bản đồ, nhưng tỉnh Thừa Thiên-Huế không triển khai. Các nhà khoa học nói, nhưng lại không được ủng hộ" - ông Hồng nhấn mạnh.

Cúc Phương

Thứ Hai, 02/11/2020 13:28

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện