Phát triển điện than ở ĐBSCL: Cẩn trọng với nguồn thủy sản

(Khoa học) - Thủy sản là một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế và sinh kế của vùng ĐBSCL, phát triển điện than cần đặc biệt lưu ý.

Tại hội thảo nghiên cứu “Phân tích chi phí, lợi ích của kịch bản năng lượng dưới góc nhìn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long” do Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) - một tổ chức khoa học - công nghệ trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức, ThS. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL đã có một báo cáo quan trọng cho thấy rõ những tác động tiêu cực từ phát triển hàng loạt nhà máy nhiệt điện than đối với nguồn lợi thủy sản tại khu vực.

Phat trien dien than o DBSCL: Can trong voi nguon thuy san
Nhiệt độ nước từ các nhà máy điện có thế ảnh hưởng đến một số loài thủy sản.

Theo đó, nhà máy nhiệt điện than sẽ gây ô nhiễm nhiệt môi trường nước. Từ đó, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản tại ĐBSCL. Trong khi thủy sản là một trong những trụ cột quan trọng của hệ sinh thái, kinh tế, văn hóa, và sinh kế của vùng ĐBSCL. Do đó, cần đặc biệt chú ý vấn đề ô nhiễm nhiệt khi phát triển điện than.

ThS. Nguyễn Hữu Thiện giải thích, lượng nước làm mát của các nhà máy nhiệt điện than lấy trực tiếp từ sông Hậu, sông Tiền, sau khi làm mát thì xả ra lại dòng sông với nhiệt độ chênh lệch 7 độ C, làm cho nhiệt độ khúc sông gần miệng xả tăng lên, gây ra ô nhiễm nhiệt. Đó là sự hủy hoại chất lượng nước bởi những tiến trình làm thay đổi nhiệt độ của nước.

Theo nghiên cứu, nước làm mát được giả định có nhiệt độ đầu vào là 25 - 27 độ C (có thể lên tới 32 độ C vào mùa hè) và nhiệt độ đầu ra cao hơn so với nhiệt độ đầu vào là 7 độ C thì nhiệt độ ở nhiều khúc sông tại ĐBSCL bị tăng lên.

Nếu số nhà máy nhiệt điện than được xây dựng theo quy hoạch mà không bị hạn chế thì từ năm 2020 đến năm 2050, tổng lượng nước làm mát tăng hàng năm 21,8 tỉ m3. So với tổng lưu lượng sông Mekong trung bình 475 tỉ m3/năm, thì lượng nước làm mát chiếm đến 4,5%. Đây là tỉ lệ rất đáng kể.

Bên cạnh đó, lượng nước sông Mekong vào Việt Nam thay đổi lớn theo mùa và theo năm. Theo tính toán của Trung tâm Khí tượng quốc gia, tổng dòng chảy 6 tháng mùa cạn vào ĐBSCL trong giai đoạn 1994 - 2012 cao nhất là 150 tỉ m3 và thấp nhất (năm 1993) chỉ 79 tỉ m3. Trong đó, dòng chảy qua nhánh Sông Hậu chiếm 49% hoặc tương tương 73 tỉ m3 và thấp nhất là 40 tỉ m3.

Riêng cho trường hợp Trung tâm Nhiệt điện Long Phú ở nhánh sông Trần Đề, có thể làm tăng nhiệt độ nhánh sông này lên cao hơn nữa, tới 31,8 - 32,07 độ C, ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản. 

Ở nhánh sông Trần Đề đang xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện than. Trong lúc, môi trường cửa sông là một trong những nơi giàu tài nguyên thủy sản nhất trên thế giới. Rất nhiều loài thủy sản di chuyển vào ra hành lang này, từ biển vào sông và từ sông ra biển trong vòng đời của chúng. Khi ô nhiễm nhiệt độ xảy ra, thiệt hại chưa lường hết được, chỉ dự đoán là rất lớn.

ThS. Nguyễn Hữu Thiện cho biết, các con số này là tính toán theo điều kiện thời tiết thông thường. Nếu tình hình đặc biệt khô hạn như năm 2016 thì ảnh hưởng sẽ rất lớn. Cũng cần nói rõ, các số liệu này vì dựa vào rất nhiều giả định nên chỉ mang tính chất tham khảo.

Trên thực tế, nước sông có thể bị ảnh hưởng bởi thủy triều lên xuống, sự lan truyền nhiệt có thể không đồng nhất do ảnh hưởng của dòng chảy, và mức tăng nhiệt độ của nước sông có thể thấp hơn nhưng thời gian giữ nhiệt lâu hơn vì trong nước sông có chứa phù sa. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm nhiệt đối với nguồn nước là chắc chắn xảy ra.

Công nghệ tiên tiến của siêu tới hạn không thể ngăn ô nhiễm nhiệt

Trước các giải thích về công nghệ siêu tới hạn và trên siêu tới hạn thải ra ít tro xỉ và bụi trong phát triển điện than, ThS. Nguyễn Hữu Thiện cho rằng, công nghệ này không giảm được lượng phát thải, tro xỉ, và lượng nhiệt làm mát trên tấn nhiên liệu.

Do đó, nếu có nhiều nhà máy phát điện tập trung xả thải nước làm mát vào cùng một thủy vực thì tổng lượng ô nhiễm nhiệt vẫn có thể vượt ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái hoặc nếu có nhiều nhà máy tập trung ở một khu vực địa lý thì tổng lượng phát thải vẫn có thể vượt ngưỡng an toàn về sức khỏe cộng đồng.

Trong môi trường thiên nhiên, các loài sinh vật thủy sinh sống và tăng trưởng trong giới hạn biến động nhiệt độ hẹp, một số loài nhạy cảm nhiệt có thể chết do sự thay đổi nhiệt độ vượt khỏi mức chịu đựng. 

Ở ĐBSCL, giữa các loại sinh cảnh có sự giao lưu, trao đổi và phụ thuộc lẫn nhau. Ví dụ sự di cư sinh sản, sinh trưởng, tìm thức ăn của các loài thủy sản giữa các vùng nước mặn, ngọt, lợ và sự di cư đường dài của các loài thủy sản từ vùng biển ĐBSCL lên thượng nguồn sông Mekong tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa môi trường sông và môi trường biển. Tác động ở một nơi có thể dẫn đến tác động ở phạm vi địa lý lớn hơn và thậm chí có tác động xuyên biên giới.

Ví dụ: Cá bông lau (Pangasius krempfi), một loài trong nhóm Anadromous, là cá nước ngọt nhưng di chuyển ra biển trong một số giai đoạn của vòng đời. Sau khi sinh sản ở các vùng thác trung lưu Mekong, trứng trôi xuống vùng hạ lưu ĐBSCL, loài cá này khi còn nhỏ sinh sống một số giai đoạn ở Biển Đông đến khi đạt kích cỡ nào đó, di chuyển vào vùng nước ngọt và lên nam Lào vào tháng 5 - 6 để sinh sản vào đầu mùa mưa.

Đây là một trong các loài có đường di cư dài nhất của các loài cá Mekong. Tương tự là cá tra bần (Pangasius mekongensis) cũng sinh sống vùng cửa sông ở ĐBSCL và di cư ngược dòng sông Mekong lên nam Lào để sinh sản. Chúng là đối tượng khai thác quan trọng đối với nghề đánh cá ở các vực nước sâu trên sông Tiền, sông Hậu như cù lao Tân Lộc, kinh Vàm Nao và vùng ven biển.

Một ví dụ khác là cá ngát (Plotosus canius) sống được ở cả ba môi trường nước ngọt, lợ và mặn, thường phân bố khá rộng từ vùng nước ngọt trên sông Tiền, sông Hậu đến vùng nước lợ ở cửa sông và ven biển.

Tôm càng xanh trưởng thành sống ở vùng nước ngọt, thành thục và giao vĩ trong nước ngọt, sau đó di cư ra vùng nước lợ (có độ mặn 6 - 18%o) và ấu trùng nở ra, sống phù du trong nưóc lợ. Khi hoàn thành 11 lần lột xác để thành tôm con thì di chuyển dần vào vùng nước ngọt. Ở ĐBSCL có hai mùa tôm sinh sản chính là tháng 4 - 6 và tháng 8 - 10.

Phat trien dien than o DBSCL: Can trong voi nguon thuy san
Các loại thủy sản tại ĐBSCL có thể chịu tác động mạnh mẽ từ ô nhiễm nhiệt do nước xả từ nhà máy nhiệt điện than.

Một loại đặc sản của ĐBSCL là cá kèo (Pseudapocryptes elongatus), theo nghiên cứu của Đại học Cần Thơ, chúng di cư ra biển mỗi tháng 2 lần tương ứng với 2 thời kỳ triều lên trong tháng là con nước rằm và cuối tháng. Trong đó cá di cư với số lượng lớn và thường xuyên hơn trong thời kỳ con nước cuối tháng. Mặc dù nhiệt độ nước biến động không lớn giữa các tháng nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy cá di cư nhiều hơn khi nhiệt độ thấp; ngược lại, cá di cư ít khi nhiệt độ cao hơn.

Đánh giá tác động môi trường chưa khoa học 

ThS. Nguyễn Hữu Thiện nhận định, thực tế cho thấy, các dự án nhà máy nhiệt điện than thường được đánh giá tác động môi trường riêng lẻ và trong phạm vi hẹp về địa lý. 

Ví dụ khi đánh giá về ô nhiễm nhiệt của các trung tâm nhiệt điện gồm một cụm nhiều nhà máy nhiệt điện hoặc khi có nhiều trung tâm nhiệt điện đặt trên cùng một dòng sông thì việc thực hiện đánh giá tác động môi trường cho từng nhà máy nhiệt điện riêng lẻ sẽ không thấy được tác động tích lũy của sự tăng nhiệt độ do tác động của nước thải làm mát từ tất cả các nhà máy đối với dòng sông.

Các báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự án riêng lẻ thường được thực hiện khi các dự án đã được phê duyệt về mặt chủ trương và không có thông tin sớm về các tác động cho các quyết định phê duyệt ở tầm chiến lược này để giúp các cấp thẩm quyền có đủ thông tin cân nhắc trong quá trình phê duyệt.

Khi chọn lựa một hỗn hợp các phương án phát điện để đáp ứng nhu cầu phát triển, cần có sự cân nhắc ở tầm chiến lược, xem xét tác động tích lũy của tất cả các dự án, tác động dây chuyền ở không gian và thời gian phù hợp.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, việc xem xét chi phí và lợi ích của các phương án phát điện không nên chỉ dựa đơn thuần vào chi phí đầu tư và lợi nhuận về tài chính mà cần bao gồm các chi phí về môi trường và xã hội, được tính đúng và đầy đủ với phạm vi không gian và thời gian phù hợp.

Có thể không cần nhiều nhiệt điện than?

Theo Quy hoạch điện 7 điều chỉnh, 12 nhà máy nhiệt than với tổng công suất 15,780MW dự kiến được xây dựng tại khu vực ĐBSCL. Cùng với 2 nhà máy đã được xây dựng và đi vào vận hành (Duyên Hải 1 và Duyên Hải 3), tới năm 2030, tổng công suất từ nhiệt than sẽ là 18.268MW.

Phat trien dien than o DBSCL: Can trong voi nguon thuy san
Danh sách nhà máy nhiệt điện than ở ĐBSCL theo quy hoạch hiện nay.

Ngoài nhiệt điện than, khu vực ĐBSCL còn được quy hoạch nguồn chạy khí bao gồm 3 nhà máy tại Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất 3150MW dự kiến sử dụng nguồn khí dẫn từ Lô B và 2 nhà máy điện khí Kiên Giang 1 và 2 tổng công suất 1500MW cũng dự kiến sử dụng nguồn khí từ Lô B theo tuyến đường ống Lô B - Ô Môn và nguồn khí thiên nhiên hóa lỏng LNG nhập khẩu do PVN làm chủ đầu tư. Như vậy, tới năm 2030, tổng công suất từ các nhà máy chạy khí ở ĐBSCL sẽ là 5310MW.

Song nghiên cứu từ chuyên gia năng lượng của GreenID cho thấy, khu vực ĐBSCL có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo và hoàn toàn có thể đẩy mạnh theo hướng này.

Cụ thể, báo cáo của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo tháng 9/2019 và thông tin từ các địa phương cho thấy, nguồn điện mặt trời dự kiến xây dựng với công suất đã được phê duyệt đến năm 2020 là 764,6MW, sau năm 2020 là 197,9MW; còn công suất dự kiến xây dựng của các nhà đầu tư nhưng chưa được phê duyệt, đến năm 2020 là 895,2MW và sau năm 2020 là 2387,9MW. 

Về nguồn điện gió dự kiến xây dựng với công suất đã được phê duyệt là 1.849,1MW, công suất đã đăng ký của các nhà đầu tư nhưng chưa được phê duyệt là 11.039MW. 

Bên cạnh điện mặt trời áp mái có giới hạn mức phát triển năm 2020 là 200 MWac, năm 2030 là 500 MWac và năm 2050 là 1000 MWac; điện rác tiềm năng nâng lên 200MW do thời gian quy hoạch dài hơn…

Cúc Phương

Thứ Ba, 07/01/2020 13:23

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện