Vì sao rừng nguyên sinh còn nguyên chỉ 0,25%?

(Khoa học) - Giá trị của rừng nguyên sinh và rừng tự nhiên không chỉ ở khả năng phòng hộ mà còn là giá trị về mặt khoa học và lịch sử...

Xung quanh những tranh luận về chức năng của các loại rừng trên diễn đàn Quốc hội gần đây, GS-TSKH Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đã khẳng định như vậy.

Vi sao rung nguyen sinh con nguyen chi 0,25%?
Tỉ lệ rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn chỉ còn 0,25%. Ảnh: NLĐ

Con người không trồng được rừng tự nhiên, nhưng…

PV: Thưa ông, tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) dẫn số liệu cho biết cả nước có 3.400 giấy phép khai thác tài nguyên có tác động đến rừng tự nhiên. Tình trạng khai thác rừng trái phép xảy ra trên cả nước và có nguyên nhân từ công tác quản lý chưa tốt. Nhiều ĐBQH cho rằng, trồng rừng thay thế chỉ là biện pháp khiên cưỡng, vì giữ được một ha rừng tự nhiên, giá trị còn cao hơn 100 ha rừng trồng mới. Bài học minh chứng chính từ trong đợt thiên tai, bão lũ xảy ra vừa qua.

Một con số giật mình cũng được đưa ra, đó là tỉ lệ rừng nguyên sinh của Việt Nam còn nguyên chỉ còn 0,25%. Ông nhìn nhận vấn đề này thế nào? Phải lý giải những con số trên ra sao? Theo ông, nếu giữ được rừng nguyên sinh thì có tác dụng gì?

GS Nguyễn Ngọc Lung: Tôi có theo dõi những tranh luận tại diễn đàn Quốc hội về vấn đề này. Những tranh luận trên xuất phát từ số liệu được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN-PTNT) cho biết, trong 30 năm qua, ngành nông nghiệp đã cải tạo, gia tăng thêm được 1,3 triệu ha rừng tự nhiên. Con số trên gây tranh cãi vì các ĐBQH đã dẫn lời các nhà khoa học khẳng định không thể trồng được rừng tự nhiên. Bởi, rừng tự nhiên là phải do tự nhiên hình thành, không phải rừng được tạo nên bởi tác động của con người.

Tuy nhiên, con số ngành nông nghiệp đưa ra cũng không sai. Khiếm khuyết của ngành nông nghiệp và kể cả ngành tài nguyên môi trường chính là nêu ra con số nhưng không giải thích được rừng tự nhiên được tạo nên trong điều kiện nào và vì sao diện tích rừng đó được tăng lên.

Theo chương trình trồng rừng 327, chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc được thực hiện từ năm 1993 – 1998 của Chính phủ đã giao đất đai và giao luôn cả sổ đỏ cho dân, người dân trồng cây gì sẽ được hưởng lợi từ cây đó. Chủ trương này, khiến tốc độ phủ xanh rừng phát triển rất nhanh. Bên cạnh đó, kiểm lâm cũng không cần phải bảo vệ các diện tích đất rừng đã được giao cho dân, nhờ thế diện tích rừng trồng và được bảo vệ tăng lên nhanh chóng. Con số 1,3 triệu ha rừng tăng lên là nhờ có chủ trương này.
 
Cái hay nữa của chủ trương này là người dân có quyền xúc tiến phát triển rừng, bảo vệ cây trồng, không cho ai chặt phá. Cụ thể, tại thời điểm chưa giao đất cho dân, do điều kiện nghèo đói, cộng thêm thiếu chất đốt, những cây tái sinh thường bị người dân đốn hạ đem bán lấy tiền đổi, mua lương thực. Tuy nhiên, thời gian sau, khi đã đủ lương thực, thừa gạo bán, chất đốt cũng không còn thiếu, người dân không chặt hạ cây tái sinh nữa, khi đó 1 ha rừng tự nhiên bị người dân chặt phá trước đó lại có hàng trăm cây tự nhiên được mọc lên. Ví dụ, từ những diện tích đất không phát triển được rừng trồng như các loại cây bạch đàn, keo, dổi… hoặc những diện tích người dân sau khi chặt rừng, làm rẫy, bỏ đi chỗ khác, những diện tích này sẽ mọc lên những cây mới từ gốc rễ cây cũ, từ hạt rừng do chim muông tha tới… lúc này người dân vẫn thúc đẩy được quá trình xúc tiến tự nhiên của rừng. Vấn đề chỉ còn là bảo vệ cây tự nhiên, không cho ai chặt phá.

Nếu làm được như vậy, khi trồng rừng người dân cần 3 năm để rừng khép tán và thu hoạch, bây giờ, để hình thành nên những diện tích rừng tự nhiên, người dân cần tới hai chu kỳ, thậm chí lâu hơn nữa mới thu hồi cây to, khi đó những cây non cũng đã phát triển, khép tán để nghiệm thu. Cùng với đó sẽ có hàng trăm nghìn loại cây, nhiều độ tuổi khác nhau được hình thành và phát triển tán dưới, tạo thành những thảm thực vật đa dạng nhiều tầng lớp đan xen. Như vậy, ngay chương trình 327, Việt Nam đã trồng được 1,1 triệu ha rừng trồng và xúc tiến tái sinh, tự phục hồi được tới 400 nghìn ha rừng tự nhiên, nhưng đây là rừng tự nhiên non và từ rừng tự nhiên non trở thành rừng tự nhiên trưởng thành thì phải cần nhiều năm sau, thậm chí hàng trăm năm, hàng thế kỷ sau mới có được.

 Lẽ ra, trên diễn đàn Quốc hội, khi đưa ra con số trên, lãnh đạo ngành nông nghiệp cần giải thích rõ hơn rằng, con người không trồng được rừng tự nhiên nhưng có thể bảo vệ, để rừng tự nhiên tái sinh. Giải thích như vậy chắc chắn sẽ không gây tranh cãi nóng.
 
Riêng với ý kiến cho rằng, trồng rừng thay thế chỉ là biện pháp khiên cưỡng, vì giữ được một ha rừng tự nhiên, giá trị còn cao hơn 100 ha rừng trồng mới, phát biểu này không sai, bởi khía cạnh so sánh chính là chức năng phòng hộ của rừng tự nhiên.

Đặc tính của rừng nguyên sinh và rừng tự nhiên là thiết kế đa tầng, với nhiều lớp thảm thực vật khác nhau, trong khi rừng trồng chỉ có một loại cây duy nhất, chỉ có một lớp tán, một lớp rễ duy nhất như phi lao, keo, bạch đàn… Vì thế, khả năng phòng hộ của rừng trồng là rất thấp, chỉ bằng khoảng 1/5 so với rừng tự nhiên.

Càng không thể so sánh khả năng phòng hộ giữa rừng trồng với rừng nguyên sinh, bởi rừng nguyên sinh (hay còn gọi là rừng nguyên thủy) tức là rừng còn nguyên vẹn do thiên nhiên tạo ra, chưa bị tác động của con người. Đây là loại rừng có rất nhiều cây to, cây nhỏ, có thảm thực vật dày đặc, với bộ rễ dày hàng chục, hàng trăm mét, khả năng phòng hộ của loại rừng này cao hơn nhiều so với rừng tự nhiên.

Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh đang ngày càng bị thu hẹp, một phần do rừng già rừng chết, nhưng phần lớn hơn là do tác động của con người, do bị chặt phá, khai thác gỗ, vì thế mới có con số thống kê chỉ còn 0,25% rừng nguyên sinh nguyên vẹn.

Đáng ra, chúng ta cần phải nói cho tất cả mọi người hiểu rằng, rừng nguyên sinh khác với rừng tự nhiên, khác với rừng trồng và khác với rừng phòng hộ không chỉ ở giá trị phòng hộ mà còn ở giá trị về lịch sử và khoa học, vì thế phải cố gắng giữ cho được loại rừng này. 

Về chức năng phòng hộ, tôi nghĩ không cần nói thêm, nhưng về giá trị khoa học và lịch sử, hay nói cách khác là giá trị bảo tồn, thì nước nào giữ được càng nhiều diện tích rừng nguyên sinh chính là đang giữ được giá trị về mặt nghiên cứu khoa học cũng như về mặt lịch sử là vô giá, đây chính là giá trị to lớn từ rừng nguyên sinh đem lại.

Dĩ nhiên, có nhiều quốc gia không giữ được một ha rừng nguyên sinh nào nhưng con người nước họ vẫn hạnh phúc và đất nước họ vẫn phát triển, bởi rừng nguyên sinh không mang lại nhiều giá trị kinh tế, nhưng chắc chắn họ sẽ rất nghèo nàn về mặt nghiên cứu sinh thái. Vì điều này, quốc gia nào đang còn rừng nguyên sinh họ đều rất cố gắng giữ gìn và bảo vệ.

Lũ lụt do thiết kế rừng phòng hộ thủy điện chưa tốt

PV: Như vậy thì cần phải phân biệt rõ chức năng của từng loại rừng ra sao? Với rừng phòng hộ thì phải thiết kế như thế nào, thưa ông?

GS Nguyễn Ngọc Lung: Về chức năng của từng loại rừng như tôi đã nói ở trên, không cần phải nhắc lại nữa. Riêng chức năng phòng hộ thì phải hiểu rõ đối tượng phòng hộ là gì, khi đó mới có thiết kế rừng phòng hộ cho phù hợp.

Tôi lấy ví dụ, rừng phòng hộ cho thành phố thì phải bảo đảm về mặt mỹ quan, che chắn khói bụi, làm không khí trong sạch. Như vậy, những đường cây, khu vườn, công viên cây xanh... chính là rừng phòng hộ cho thành phố.

Với rừng phòng hộ cho bãi cát thì yêu cầu phải là những loại cây có khả năng chống được gió lớn, sóng nước, cản được cát bay. Loại cây phù hợp với phòng hộ gió, cát chính là cây phi lao.

Loại rừng phòng hộ đang nhận được nhiều quan tâm nhất, cũng chính là tâm điểm gây tranh cãi xung quanh những vụ sạt lở, bão lũ những ngày qua, là rừng phòng hộ nguồn nước, điển hình là phòng hộ cho thủy điện. Riêng với loại rừng phòng hộ này không thể thiết kế theo quy trình phòng hộ thông thường, mà phải dựa vào đối tượng, địa hình, lưu vực cần phòng hộ. Việc thiết kế rừng phòng hộ nguồn nước cho các thủy điện phụ thuộc rất lớn vào các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các cơ quan chức năng quản lý. Nói cách khác, môi trường sẽ là yếu tố cho phép thiết kế công suất của nhà máy thủy điện, còn rừng phòng hộ sẽ giúp bảo vệ cho độ bền tuổi thọ thiết kế của nhà máy và đồng thời có chức năng chống lại hạn hán, lũ lụt, bảo vệ an toàn cho nhà máy thủy điện. 

Tôi lấy ví dụ, với những khu vực có môi trường khí hậu khắc nghiệt, khô hạn kéo dài như Tây Nguyên, hay nhiều vùng của miền Trung như Ninh Thuận, lượng nước mưa có năm chỉ đạt 500-600mm nước, trong khi tại Hà Nội là 1.600mm/năm, Sài Gòn là 2.000mm/năm. Trong điều kiện khô hạn như vậy, để bảo đảm duy trì lượng nước cho nhà máy thủy điện vận hành thì lúc này hàng rào bảo vệ cho nhà máy chính là rừng phòng hộ.

Lúc này vai trò phòng hộ tốt nhất cho các thủy điện chỉ có rừng nguyên sinh và rừng tự nhiên. Nhờ thiết kế đa tầng của hai loại rừng này khi mưa xuống, hệ thống rừng sẽ giúp phân hóa, tích trữ nước mưa thành nước ngầm. Theo tính toán, có đến 85-90% lượng nước theo tán lá, thảm mùn trên mặt đất hoặc hệ thống rễ cây liên kết tạo thành thảm dẫn dưới lòng đất, tạo thành dòng nước ngầm. Đến mùa khô, hồ thủy điện cạn kiệt, lượng nước được tích trữ ngầm sẽ được hút ngược trở lại vào các lòng hồ, tạo thành nguồn nước cung cấp cho nhà máy hoạt động tốt.

Như vậy, rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh dù nghèo kiệt, không giàu về giá trị gỗ và kinh tế, nhưng chức năng phòng hộ vẫn không thể có loại rừng nào so sánh được. Chức năng phòng hộ ở đây không chỉ có tác dụng bảo vệ cho thủy điện mà còn có chức năng phân hóa nguồn nước, giảm thiểu tình trạng lũ lụt, sạt lở có thể xảy ra.

Tình trạng sạt lở, xói mòn xảy ra tại các thủy điện miền Trung vừa qua là do rừng phòng hộ cho các nhà máy này không phát huy tác dụng, hay nói cách khác là không đáp ứng được yêu cầu phòng hộ cho nhà máy.

Nguyên nhân là do đa số các loại rừng phòng hộ tại các thủy điện nhỏ và vừa hiện nay được thiết kế đơn điệu, một loại cây, một tầng lá, một tầng rễ như cây keo, cây bạch đàn… Đó là chưa nói đến thời gian khai thác lại bị chặt đi và trồng cây mới nên khả năng phòng hộ chỉ cao hơn so với khu vực đất trống, đồi núi trọc, chứ không thể so sánh với rừng tự nhiên hay rừng nguyên sinh. 

Loại rừng này không thực hiện được chức năng chuyển hóa nước mưa thành nước ngầm, nên khi có mưa lớn kéo dài, lượng nước mưa gần như đều chảy tràn trên mặt đất (chiếm tới 80-85% chảy tràn). Lượng nước chảy tràn lớn, cộng thêm lực chảy mạnh dội từ trên đỉnh đồi xuống đã tạo thành lũ quét, lũ ống. Một khi có lũ quét, lũ ống, hậu quả rất kinh khủng, không gì có thể ngăn cản nổi. Hậu quả là gây sạt lở, lũ lụt, người dân hạ du gánh hết.

Do đó, muốn cải thiện được chức năng phòng hộ cho các loại rừng trồng, việc đầu tiên phải xác định rất rõ loại cây trồng phòng hộ sẽ không đi cùng với mục đích lấy gỗ. Cây trồng phòng hộ phải có rễ giống với loại cây tự nhiên, hoặc trồng ngay loại cây tự nhiên, chứ không phải trồng bạch đàn hay bồ đề, cây thông, những loại cây này không những không có chức năng phòng hộ mà còn gây hại cho đất (do có một tầng dễ nên ăn dinh dưỡng của một tầng đất, khiến đất bị nghèo kiệt, không cân bằng được dinh dưỡng, bồi bổ cho đất). Như vậy, nếu thiết kế rừng phòng hộ tốt, rừng phòng hộ không chỉ có chức năng phòng hộ cho thủy điện mà còn có cả chức năng phục vụ thủy lợi, cung cấp nước cho các vùng hạ du.

Có nên coi tỉ lệ che phủ là thành tích?

PV: Cùng với việc đưa ra số liệu về tỉ lệ rừng tự nhiên tăng lên trong những năm qua, ngành nông nghiệp cũng cho biết, hệ số che phủ rừng Việt Nam đã đạt gần 42% (cao hơn nhiều mức trung bình của thế giới là 29%) và cho rằng đây là con số đáng phấn khởi. Có thể nhìn vào tỉ lệ che phủ này và coi đó là thành tích đáng mừng, trong khi vai trò điều tiết nước, phòng hộ gần như không đáng kể được không, thưa ông?

GS Nguyễn Ngọc Lung: Hệ số che phủ rừng Việt Nam tăng lên là điều đáng khen ngợi. Tuy nhiên, tỉ lệ che phủ rừng là đã bao gồm cả tỉ lệ rừng nguyên sinh, rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và cả rừng sản xuất. Vì thế, chúng ta phải xác định mục tiêu rõ ràng rằng, tăng tỉ lệ che phủ, nhưng đồng thời phải tăng tính bền vững, cũng như khả năng phòng hộ của rừng. Tức là, ban đầu sẽ lấy mục tiêu trồng rừng để che phủ đất trống, đồi núi trọc, sau đó phải thúc đẩy quá trình tái sinh tự nhiên, bảo vệ cho rừng trồng được phát triển tự nhiên.

Tuy nhiên trên thực tế mục đích này không đạt được, vì với những loại rừng sản xuất hay còn gọi là rừng kinh tế thì chỉ phục vụ cho lợi ích của con người. Khi đó, con người chỉ lựa chọn trồng những loại cây có khả năng thu gỗ tốt nhất, bán giá cao nhất, hoặc những loại cây có khả năng mang lại giá trị kinh tế cao như tre, nứa, cây thuốc… không lựa chọn những loại cây vì mục đích bảo tồn thiên nhiên hay vì mục đích phòng hộ, ngăn chặn lũ lụt.

Lại nhắc tới vấn đề lợi ích của con người, đây cũng là nguyên nhân khiến rừng bị chặt phá để làm thủy điện, chặt phá để khai thác gỗ, và cũng chính vì nguyên nhân này mà người ta đã lợi dụng các khái niệm rừng tự nhiên nghèo kiệt để phá bỏ, khai thác gỗ, xin chuyển mục đích sử dụng.

Điều này rất nguy hiểm, bởi như tôi đã khẳng định ở trên, dù là rừng nghèo kiệt thì khả năng phòng hộ của rừng nguyên sinh và rừng tự nhiên sẽ không thể có một loại rừng nào có thể so sánh được. Nhưng nếu cứ bám vào mục tiêu phủ xanh rừng mà hủy hoại rừng tự nhiên thì rất nguy hiểm, sẽ lại có những diện tích rừng tự nhiên bị cho là nghèo kiệt mà chuyển đổi mục đích, xây dựng nhà máy, dự án nghỉ dưỡng, sẽ lại có những bài học như trồng cao su mà hậu quả để lại cho tới giờ chưa thể khắc phục hết. 

PV: Vậy trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, nếu muốn giữ được rừng và để rừng thực hiện tốt các vai trò điều tiết tự nhiên của nó thì cần phải làm thế nào? Nên bắt đầu từ đâu, thưa ông?

GS Nguyễn Ngọc Lung: Không có cách nào khác là bảo vệ, thúc đẩy cho rừng phát triển tự nhiên.

Để làm được như vậy, việc đầu tiên là phải ngăn chặn triệt để tình trạng lấy rừng tự nhiên, dù là rừng nghèo kiệt, để phát triển rừng sản xuất, rừng trồng thay thế.

Ngoài chỉ tiêu tổng diện tích, tỉ lệ che phủ rừng có trên lãnh thổ, điều quan trọng nhất là bố trí rừng. Có những quốc gia chỉ có 30 - 35% rừng nhưng cực kỳ an toàn vì đã có quy hoạch gọi là lâm phận ổn định, chỗ nào cần có rừng, loại rừng gì thì người ta làm đúng như thế.

Thế giới đã khẳng định, rừng là nhân tố tốt nhất để người dân tham gia vào chống biến đổi khí hậu. Người nghèo cũng có thể tham gia, quan trọng là họ trồng rừng và giữ được rừng.

Lam Nguyễn

Thứ Năm, 19/11/2020 13:37

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện