Chuyên gia WB đặt dấu hỏi về FDI: Chủ nợ cảnh báo

(Doanh nghiệp) - Chuyên gia WB, nói cách khác là chủ nợ của Việt Nam phải đưa ra lời cảnh báo về FDI thì Việt Nam nên nhìn nhận một cách nghiêm túc.

Liên quan tới phát biểu của Kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới (WB) mới đây cho rằng: "Đến thời điểm hiện tại Việt Nam không nên đặt vấn đề thu hút được bao nhiêu doanh nghiệp nước ngoài (FDI) mà cần đặt câu hỏi "FDI đã làm được gì cho Việt Nam?", chuyên gia kinh tế Bùi Trinh khẳng định, phát biểu trên là hoàn toàn chính xác.

Chuyen gia WB dat dau hoi ve FDI: Chu no canh bao
Chuyên gia thế giới cảnh báo về những thua thiệt trong thu hút FDI tại Việt Nam. Ảnh: Tia sáng

Theo ông Trinh, những nhận định trong thu hút FDI tại Việt Nam của chuyên gia WB không hề mới, thậm chí đã được các chuyên gia kinh tế trong nước và cá nhân ông cũng nhiều lần có tổng hợp, đưa ra số liệu chứng minh những mặt trái, những thu thiệt trong thu hút FDI đối với nền kinh tế trong nước nhưng dường như không được quan tâm.

Điểm khác biệt duy nhất trong lần cảnh báo này là đến từ một chuyên gia kinh tế nước ngoài, chuyên gia của WB, hay nói một cách dễ hiểu là "sự lên tiếng của chủ nợ".

Theo ông Trinh, những cảnh báo của chuyên gia WB ngoài mang ý nghĩa nhắc nhở Việt Nam phải nhìn nhận lại chính sách thu hút FDI thì có thể còn mang theo cả nỗi lo lắng: "Chuyên gia WB có phân tích rằng, rủi ro lớn nhất cho Việt Nam là bẫy kinh tế cân bằng tổng thể khi trước đây Việt Nam duy trì mức tăng 7-8% nhưng giờ ở mức thấp hơn.

Lý do được chỉ ra là do tăng trưởng cao của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào kinh tế đối ngoại và tiêu dùng trong nước. Dưới tác động của dịch bệnh khiến tiêu dùng xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước đều bị giảm mạnh.

Sự suy giảm đang nhìn thấy ở mọi mặt của nền kinh tế, trong khi nguồn lực tăng trưởng tiềm năng đang cạn, ở tâm lý của một chủ nợ, họ lo lắng là đương nhiên", TS Bùi Trinh nói.

Vị chuyên gia kỳ vọng, những cảnh báo của chuyên gia WB sẽ góp thêm tiếng nói làm thức tỉnh cuộc đua "vốn ngoại", không nên thu hút rầm rộ nhưng toàn mời những ông công nghệ thấp, tận dụng lao động rẻ, ô nhiễm môi trường nhiều, khai thác tài nguyên cạn kiệt, gây hại cho nền kinh tế.

Phân tích một cách toàn diện, TS Bùi Trinh không phủ nhận những đóng góp của FDI với nền kinh tế như: Vốn FDI là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong tổng nguồn vốn, nhất là trong giai đoạn khởi động nền kinh tế; tạo công ăn việc làm; đóng góp nguồn thu cho ngân sách Nhà nước; làm tăng giá trị xuất khẩu...

Tuy nhiên, thực tế cho thấy có không ít doanh nghiệp FDI lạm dụng chính sách ưu đãi và cơ chế chuyển giá, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.

Đáng nói, khối doanh nghiệp FDI cũng tạo ra tình trạng kinh doanh thiếu minh bạch, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Đáng lo ngại là vấn đề môi trường bị ảnh hưởng từ khu vực FDI cũng như việc khai thác lãng phí tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản.

"Nói thẳng ra thì chúng ta chỉ được một phần nhỏ từ tiền thuế họ đóng, công nghệ, kỹ năng quản lý cho người Việt sau bao nhiêu năm thu hút FDI vẫn chỉ bằng 0, trong khi chính sách ưu đãi Việt Nam dành cho họ còn lớn hơn rất nhiều", ông Trinh nói.

Vẫn theo ông Trinh, sự bất hợp lý, bất bình đẳng nói trên không những gây thiệt hại cho ngân sách, làm ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh mà còn gây tác động tiêu cực tới khu vực doanh nghiệp trong nước.

Cụ thể, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy luồng tiền ra thuần năm 2017 khoảng 10,6 tỷ USD, chiếm khoảng 5% GDP, tăng 28% so với năm 2016 theo giá hiện hành và tăng gần 24% so với năm 2016 nếu loại trừ yếu tố giá. Tốc độ tăng của luồng tiền ra cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP khá nhiều (hơn ba lần).

Năm 2018, theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, chi trả sở hữu thuần trên 17 tỷ USD. Phần nhiều trong khoản này là khu vực doanh nghiệp FDI chuyển tiền về nước sau khi được hưởng mọi ưu đãi của phía Việt Nam.

Ước tính năm 2019 chi trả sở hữu ra nước ngoài khoảng trên 18 tỷ USD, trong đó khu vực FDI chiếm tỷ trọng không nhỏ. Điều này cho thấy một nghịch lý, càng tăng trưởng GDP càng khiến nguồn lực của nền kinh tế bị bào mòn.

Mặt khác, theo điều tra doanh nghiệp, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực FDI trong GDP vẫn thấp, khoảng 20%.

Ông Trinh cho rằng, nếu tính đúng, bài bản thì tăng trưởng GDP của Việt Nam còn cao hơn con số 7,02% (khoảng 7,1-7,15%). Thế nhưng, tốc độ tăng trưởng GDP cao không hoàn toàn là tín hiệu vui mừng vì luồng tiền ra nhiều hơn. Bởi vậy, không nên sa đà vào tăng trưởng GDP.

"Càng dựa vào vốn FDI thì nội lực trong nước càng bị thu hẹp. Vì thế, cần phải cần phải nhìn nhận lại việc kêu gọi FDI vào lĩnh vực nào, kêu gọi như thế nào cho hiệu quả", ông Trinh nhắc lại để khẳng định tất cả những mặt trái trong thu hút FDI đều đã được giới chuyên gia kinh tế trong nước nhận diện rất rõ, vấn đề là giải pháp ứng xử với FDI thế nào cho có lợi thì tới nay vẫn loay hoay, chưa hiệu quả.

Chuyên gia WB: Đến lúc hỏi FDI đã làm gì cho VN?

Chuyên gia Bùi Trinh nói rõ: chính vì thế, năm 2019, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 50 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, trong đó xác định: Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu.

Cùng với đó, thông điệp cải cách trong thu hút vốn FDI cũng phải đi cùng với giải pháp rõ ràng, thu hút phải theo đúng mục tiêu chiến lược. Tập trung mạnh vào chuyển giao công nghệ tiên tiến hiện đại, bảo vệ môi trường. Đặt hiệu quả tổng thể cao, góp phần tích cực tăng tiềm lực và nội lực kinh tế đất nước; khắc phục, phòng tránh nguy cơ khu vực FDI lấn át khu vực kinh tế trong nước.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, một nền kinh tế vững mạnh phải dựa vào nội lực trong nước và vai trò của khu vực doanh nghiệp trong nước là không thể thay thế. Sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia nhất thiết phải là của chính quốc gia đó.

Lam Nguyễn

Thứ Hai, 03/08/2020 13:37

Sự Kiện