Doanh nghiệp Việt phản ứng nhà thầu ngoại: Chuyện buồn hơn!

(Doanh nghiệp) - Lùm xùm lần này khiến nhiều người lại phải cố giấu tiếng thở dài về nhiều nghịch lý vẫn đang tồn tại trong đầu tư...

Câu ngạn ngữ ‘con giun xéo lắm cũng quằn’ tưởng như đã ứng hợp trong việc giải quyết bất đồng giữa Công ty Cổ phần Cơ điện Liên Thành Việt Nam (Lithaco) và Công ty GS E&C (Hàn Quốc), nhà thầu chính gói thầu số 2 (đoạn trên cao và các depot) thuộc tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên, TP.HCM. Thoạt đầu, ai cũng sẽ nghĩ, lựa chọn cách công khai lên tiếng chắc hẳn không dễ dàng gì đối với doanh nghiệp Việt, những người vẫn phải coi việc được tham gia vào các đại dự án hàng chục ngàn tỷ đồng là điều may mắn. Vả lại, nếu những lời than thở về viễn cảnh công ty phá sản là sự thật, quả thật, Lithaco không có nhiều lựa chọn.

Thế nhưng, sự thật có thể không hoàn toàn như vậy. Mâu thuẫn xảy ra giữa Lithaco, là nhà thầu phụ, thực hiện hạng mục điện khu trạm đợi tàu và 2 nhà ga B,C,D của dự án Metro số 1 và GS E&C bắt đầu từ việc hai bên không thể thống nhất được về việc đội giá nguyên liệu do thời gian thi công kéo dài. Phía Lithaco cáo buộc nhà thầu chính đã ngừng thanh toán, chiếm giữ tài sản, thay đổi nhà thầu phụ và không thanh toán phí nhân công những hạng mục Lithaco đã hoàn thành.

Doanh nghiep Viet phan ung nha thau ngoai: Chuyen buon hon!
Công nhân Lithaco dựng băng rôn phản đối nhà thầu Hàn Quốc

Về phía GS E&C, nhà thầu nước ngoài cho rằng, Lithaco luôn không tuân thủ nghĩa vụ hợp đồng, không huy động được nhân công và vật liệu đúng tiến độ đề ra. Thậm chí, GS E&C còn thông tin, vấn đề thanh toán giữa hai bên liên quan đến việc thiếu hụt, mất vật liệu mà công ty đã chi trả trước cho Lithaco. Lithaco còn bị cho là không hợp tác giải quyết các vấn đề tồn đọng liên quan tới hợp đồng. Việc bàn giao một số công việc quan trọng từ Lithaco sang một nhà thầu phụ khác nhằm đảm bảo tiến độ của dự án.

Nhìn vào những tranh luận trên, dễ thấy, doanh nghiệp Việt tiếp tục lại ở thế dễ thua cuộc. Điểm mấu chốt là vấn đề trượt giá vật liệu nhưng nhiều khả năng, điều này đã được quy định kỹ trong hợp đồng. Trong trường hợp đó, không thể viện dẫn nhà thầu chính nước ngoài được điều chỉnh giá trị khi công trình bị chậm tiến độ, kéo dài thời gian thực hiện mà suy ra, nhà thầu phụ Việt phải được hưởng quy chế tương ứng.

Rõ ràng, bút đã sa thì không thể cãi. Chẳng phải ngẫu nhiên mà đại diện GS E&C đã tự tin phát biểu trên báo chí, "nếu Lithaco thật sự tự tin mình là đúng, họ nên liên hệ trực tiếp với chúng tôi và cố gắng giải quyết vấn đề thông qua quy trình tranh chấp đã được quy định trong hợp đồng chứ không phải thông qua việc phàn nàn, phiền nhiễu với chủ đầu tư”.

Dẫu sự việc có diễn biến theo hướng kém khả quan, những ồn ào đang xảy ra không phải là vô nghĩa. Tận thấy gương mặt công nhân Lithaco tiếp tục rám nắng trong nhiệm vụ đòi quyền lợi, người ta tin rằng, sẽ có những gượng nhẹ, du di trong các cuộc đàm phán tiếp theo giữa Lithaco và nhà thầu Hàn Quốc. Nên hiểu, sự nể nang trong tình huống này bắt nguồn từ thiện chí.

Diễn tiến có thể dự đoán là, doanh nghiệp Việt được hưởng thêm đôi chút quyền lợi. Đương nhiên, không thể coi đây là thắng lợi, càng không thể coi là tiền lệ tốt. Thế giới đang ngày càng phẳng dẹt, cạnh tranh không phải giữa các doanh nghiệp thuộc quốc gia này hay quốc gia kia mà là một cuộc đua toàn cầu, cách duy nhất là hội nhập theo đúng luật chơi chung. Dịch Covid-19 hay những khó khăn mang tính chủ quan của doanh nghiệp không thể biện minh cho những hành động trái với cách hành xử đúng nghĩa kinh tế thị trường.

Tiếp cận theo cách này, lại xuất hiện nhiều vấn đề cần bàn. Đầu tiên, về việc ký kết hợp đồng, thực tế doanh nghiệp Việt luôn thua thiệt trong các tranh chấp với nhà thầu ngoại là điều không phải ‘xưa nay hiếm’. Những điều khoản trong hợp đồng ký kết giữa hai bên thông thường vẫn đặt nhà thầu phụ Việt Nam luôn ở thế dễ bị tổn thương nếu xảy ra bất đồng.

Ở đây, phải nhìn nhận cả hai lý do. Về mặt chủ quan, bản thân nhà thầu phụ Việt đã không có sự đầu tư đúng mức vào bước xem xét, ký kết hợp đồng, bỏ lọt những điều khoản bất lợi cho chính mình. Về mặt khách quan, như đã nói, với nhà thầu phụ Việt Nam, được tham gia vào dự án là một cơ hội lớn đến mức rất nhiều khi doanh nghiệp Việt đã nhắm mắt bỏ qua những điều bất lợi. Vả lại, kể cả có muốn đòi quyền lợi, sức mạnh tài chính và pháp lý của phía doanh nghiệp Việt cũng thua kém rất nhiều so với đối tác nước bạn. Chúng ta chưa thể hóa giải vướng mắc này, vì vậy, thiệt thòi là một sự 'chẳng thể đặng đừng’.

Thứ hai, dù đã nếm trải khá nhiều trái đắng, Việt Nam lại chưa đưa ra một giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp nội? Lời gợi ý về việc chủ đầu tư đứng cùng doanh nghiệp Việt, dựa vào các cam kết về tỷ lệ nhà thầu nội được tham gia vào dự án để đạt được những thỏa thuận có lợi hơn cho ‘người nhà’ chỉ khả thi nếu điều này không được coi là cơ hội cho doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp sân sau. Chưa kể, thuyết phục đối tác nước ngoài chấp nhận điều kiện này không dễ, đặc biệt với các công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA.

Cơ hội thể hiện vai trò lớn hơn giành cho các tổ chức bảo vệ doanh nghiệp ví dụ như Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam VCCI. Đơn vị này sẽ đứng cùng nhà thầu phụ Việt trong quá trình thương thảo hợp đồng, đảm bảo hạn chế tối đa những ràng buộc bất lợi cho doanh nghiệp nội. Tất nhiên, trước khi giải pháp này được đối tác chấp nhận, bản thân các doanh nghiệp phải đồng tình tham gia cuộc đua sòng phẳng, công bằng, minh bạch, không vì mục đích giành gói thầu bằng mọi giá mà để lộ ra những sơ hở khiến đối tác dễ bề ép uổng. Nói cách khác, kể cả có quy mô nhỏ và ở thế bị động, doanh nghiệp trong nước vẫn thể hiện bản lĩnh ngang bằng các nhà thầu chính nước ngoài. Điều này, dĩ nhiên, không hề đơn giản.

Quan trọng hơn cả, lùm xùm lần này khiến nhiều người lại phải cố giấu tiếng thở dài về nghịch lý đầu tư tại Việt Nam. Chúng ta muốn có những công trình hiện đại, bắt kịp đà phát triển của thế giới nhưng lại thiếu cả nhân lực, vật lực và tài chính. Một mặt, với tư cách là chủ đầu tư, chúng ta vẫn buộc phải sử dụng những nhà thầu nước ngoài và doanh nghiệp Việt thường chỉ là nhà thầu phụ cấp 3, cấp 4. Mặt khác, kể cả muốn lựa chọn doanh nghiệp nội, các thực thể kinh doanh này lại chưa thể đáp ứng được kỹ thuật, công nghệ cho những hạng mục đầu tư kể trên. Khoảng cách giữa quyết tâm đi tắt đón đầu về cơ sở hạ tầng với năng lực hiện tại đã tồn tại từ hàng chục năm nay và tiếc là nó vẫn đang hiện hữu.

May thay, tinh thần lạc quan luôn khiến người Việt nhìn ra những lối thoát dù rất hẹp. Nguồn vốn đầu tư công 700.000 tỷ đồng dự kiến sẽ giải ngân cấp tập vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong thời gian sắp tới là cơ hội cho doanh nghiệp trong nước. Ưu ái người nhà trong giai đoạn này phải được hiểu là tạo cơ hội đầu tư đúng chuẩn mực quốc tế, sử dụng các công nghệ tiên tiến và cách thức quản lý cập nhật nhất. Có như vậy, trong tương lai, tại các dự án lớn trong và ngoài nước, doanh nghiệp Việt mới đủ lớn mạnh và trưởng thành để không mãi đứng ở vị trí ‘nhà thầu phụ’.

Khánh Nguyên

Thứ Ba, 19/05/2020 08:04

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện