Doanh nghiệp Việt và giấc mơ thay thế nhà thầu Trung Quốc

(Doanh nghiệp) - Rất nhiều khi, đối diện với thực tại không nhiều tươi sáng, giấc mơ là liều thuốc tinh thần miễn phí…

Thời cơ thay thế nhà thầu Trung Quốc tại thị trường ngoại là điều được vị lãnh đạo một tập đoàn xây dựng lớn đặt ra trong một buổi tọa đàm về việc khôi phục và phát triển kinh tế TP.HCM trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19.

Một viễn cảnh màu hồng về nhu cầu thay thế nhà thầu Trung Quốc và đầu tư vào xây dựng làm đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế của các nước sau đại dịch đã được hào hứng vẽ ra. Khi Việt Nam tận dụng được cơ hội, nói như vị đại gia xây dựng, “tổng sản lượng công nghiệp sẽ được gia tăng, đóng góp hiệu quả trong việc đưa Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình trong thập kỷ tới, tạo tiền đề để đất nước bứt phá trở thành một quốc gia hùng mạnh”. Quả thực đây là một giấc mơ thật đẹp.

Doanh nghiep Viet va giac mo thay the nha thau Trung Quoc
Doanh nghiệp Việt đã thi công được những công trình đòi hỏi trình độ kỹ thuật, công nghệ tương đối cao

Vậy nhưng nếu bàn tới câu chuyện biến mong muốn thành sự thực, không thể không phân tích, mổ xẻ những căn cứ, cơ sở thực tế. Các câu hỏi buộc phải đối diện là: Vì sao nhà thầu Trung Quốc vẫn ‘lấn át’ doanh nghiệp Việt tại một số dự án trọng điểm trong nước? Xét về năng lực công nghệ, doanh nghiệp Việt đã cạnh tranh được với doanh nghiệp Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung? Chúng ta có ‘vũ khí bí mật” để có thể tính tới chuyện thay thế nhà thầu Trung Quốc tại thị trường ngoại?... Quan trọng hơn, nếu không thể mơ quá xa, điều gì sẽ là khả thể trên thực tế?

Đến đây buộc phải nhắc tới “vết đen” dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Trải qua biết bao nhiêu lời hứa hẹn, đến thời điểm này vẫn chưa hẹn được ngày dự án kéo dài cả chục năm này cán đích. Cùng với đó là nhiều lần điều chỉnh tổng mức đầu tư, sự xuống cấp của chính các loại thiết bị, công nghệ đã hoặc sẽ được lắp đặt và sự lạc hậu của chính các loại công nghệ này so với trình độ phát triển như vũ bão của nền công nghệ thế giới.

Người ta nói nhiều về những tai tiếng liên quan tới các nhà thầu Trung Quốc vì luôn gắn với những dự án chậm tiến độ, đội vốn, không chỉ tại Việt Nam, nhưng lại quên mất sự thật rằng, khi cần làm những đại công trình siêu tốc, điển hình là dự án đường sắt tốc độ cao, các doanh nghiệp Trung Quốc luôn đạt được tiến độ đề ra. Có lẽ, sự thực dụng của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã khiến toan tính lợi ích đặt trước danh tiếng. Vả lại họ đã nắm được con bài tẩy: VỐN.

Đây là bí kíp giúp doanh nghiệp Trung Quốc giành được nhiều dự án xây dựng công trình lớn tại Việt Nam, cũng như trên thế giới. Tới thời điểm này, rất nhiều quốc gia đã nhận ra lợi ích mà Trung Quốc thu được đằng sau Sáng kiến Vành đai – Con đường trị giá 1000 tỷ USD. "Bẫy nợ" hiện hình là những tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt, cảng biển và nhà máy nhiệt điện.

Theo báo cáo đưa ra vào tháng 3/2018 của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD, Mỹ), 23 nước đối mặt với nguy cơ cao về nợ nần xuất phát từ Sáng kiến Vành đai - Con đường. Nhiều quốc gia thuộc diện đáng lo ngại gồm Pakistan, Djibouti, Maldives, Mông Cổ, Montenegro, Tajikistan, Kyrgyzstan... Khi đã dùng nguồn vay từ Trung Quốc, dẫu dự án có chậm tiến độ, doanh nghiệp Trung Quốc cũng chẳng thiệt thòi gì, nếu không muốn nói là sẽ thu được thêm một phần lợi nhuận khác.

Phân tích như vậy để thấy, nếu doanh nghiệp Việt muốn cạnh tranh được với doanh nghiệp Trung Quốc, vấn đề đầu tiên phải tính tới là… tiền đâu? Giả sử có một phương cách hỗ trợ doanh nghiệp huy động vốn, tiềm lực của chúng ta liệu có thể so sánh với các doanh nghiệp nước láng giềng?

Đó là chưa đề cập tới thị trường. Giả sử đích ngắm của doanh nghiệp Việt là những thị trường chưa hoặc đang phát triển, liệu chúng ta có thể cạnh tranh với doanh nghiệp Trung Quốc về vốn? Trong trường hợp chúng ta ngắm tới những thị trường phát triển, có lý do gì để chính đất nước đó không tạo công ăn việc làm cho doanh nghiệp và lao động của họ, mà nhường cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam?

Trình độ công nghệ, chất lượng lao động, trình độ quản lý… lại là một vấn đề nan giải hơn gấp bội. Sau hàng chục năm làm công xưởng gia công và cũng chừng đó thời gian thành công với chiến lược lao động giá rẻ, Trung Quốc đã tiếp thu và theo kịp mặt bằng công nghệ thế giới. Công nghệ xây dựng hiện đại liên quan rất nhiều tới công nghệ vật liệu, các loại máy móc thiết bị tiên tiến, trình độ kỹ thuật, vận hành và quản lý của Việt Nam có đáp ứng kịp, cho dù chúng ta sẵn sàng “đi tắt đón đầu”?

Chiếm lĩnh thị trường nội có vẻ là một mục tiêu dễ đạt được hơn. Và xem ra đó là một hướng đi khả thi bởi như mọi quốc gia đang phát triển, các dự báo đều cho rằng, nhu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng của Việt Nam vẫn đang rất nóng. Chuyên gia Phát triển khu vực tư nhân của Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB tính toán, Việt Nam cần 110 tỷ USD đầu tư hạ tầng giai đoạn 2021-2025. Còn Ngân hàng Thế giới (World Bank) từng dự báo, nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng bền vững của Việt Nam sẽ lên tới 25 tỷ USD mỗi năm. 

Thế nhưng, lại phải quay trở lại câu chuyện nguồn vốn. Sự thắng thế của nhà thầu Trung Quốc và nhà thầu các quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc… tại các công trình ở Việt Nam nằm ở yếu tố này.

Chủ trương lựa chọn nhà thầu Việt Nam cho các gói thầu đại dự án cao tốc Bắc – Nam thời gian vừa qua có thể coi là một ví dụ tốt theo hai nghĩa. Thứ nhất, chúng ta không nên mải miết với cuộc đua đầu tư cơ sở hạ tầng mà phải biết “liệu cơm gắp mắm”, hướng tới hiệu quả cao nhưng chi phí đầu tư phù hợp với từng giai đoạn. Sự bình tĩnh này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta không thể trông đợi quá nhiều vào mức tăng trưởng GDP thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, tuy nhiên quả ngọt nhận được có thể sẽ là xứng đáng.

Thứ hai, bản thân doanh nghiệp Việt khi được tham gia nhiều dự án quan trọng cũng có thêm kinh nghiệm, nâng cao năng lực và có nguồn lực để tái đầu tư vào chất xám cũng như công nghệ. 

Cái bắt tay giữa các đại gia xây dựng với những đại gia bất động sản, điều đã được thể hiện ở nhiều công trình lớn, đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao nên được tiếp tục, không chỉ trong nội địa mà có thể vươn ra nước ngoài, ít ra là ở các thị trường mà doanh nghiệp Việt đã đặt được những bước chân đầu tiên.

Với các gợi ý trên, các nhà quản lý chỉ cần tạo ra và duy trì một môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, giám sát cơ chế hợp tác, đặc biệt giữa các doanh nghiệp có yếu tố nhà nước và làm tốt vai trò phân định nếu xảy ra tranh chấp. Đó cũng là cách để giúp các doanh nghiệp lớn lên bằng chính thực lực của họ.

Khánh Nguyên

Thứ Ba, 13/10/2020 16:04

Van Kien Dai Hoi
Sự Kiện