Hỗ trợ sau dịch Covid-19: Đừng để thành cuộc đua thành tích!

(Doanh nghiệp) - Đề xuất hỗ trợ nhưng quá nhiều điều kiện bó buộc, không thể tiếp cận thì hỗ trợ cũng chỉ mang tính hình thức, khó giúp được doanh nghiệp.

Gói hỗ trợ lần 1 với 62.000 tỷ đồng đến nay vẫn chưa mang lại hiệu quả, thì gói hỗ trợ thứ hai lại được đề xuất. Ông Phạm Ngọc Hưng - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM lo ngại, nếu cứ đặt ra nhiều điều kiện mang tính bó buộc doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp không thể tiếp cận được với các gói hỗ trợ, thì có một gói hỗ trợ hay thêm nhiều gói hỗ trợ nữa cũng chỉ mang tính hình thức, khó giúp được doanh nghiệp.

Ho tro sau dich Covid-19: Dung de thanh cuoc dua thanh tich!
Hỗ trợ cái doanh nghiệp cần, không chỉ hỗ trợ cái doanh nghiệp thiếu. Ảnh minh họa: Baochinhphu

Nặng hình thức, thiếu thực tế

PV: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) vừa đề xuất gói hỗ trợ lần hai dành cho doanh nghiệp và người lao động gặp khó khăn do dịch Covid-19 gây ra. Nguồn kinh phí ước tính 15.000 tỷ đồng, sẽ tập trung ở chính sách tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh, khôi phục, duy trì và mở rộng việc làm; đối tượng thụ hưởng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, người lao động khu vực nông thôn.

Cùng với đó là chính sách hỗ trợ lao động mất việc có hoàn cảnh khó khăn, sẽ hỗ trợ trực tiếp bằng tiền với kinh phí ước tính khoảng 3.600 tỷ đồng.

Trong bối cảnh việc thực hiện gói hỗ trợ lần thứ nhất còn nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy hiệu quả như kỳ vọng ban đầu, thì việc đề xuất thêm gói hỗ trợ mới đã gây ra không ít băn khoăn. Ông bình luận thế nào về cách thực hiện các gói hỗ trợ trên và vì sao hiệu quả của các gói hỗ trợ chưa cao, thưa ông?

Ông Phạm Ngọc Hưng: Đầu tiên tôi khẳng định, chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vượt qua khủng hoảng do dịch bệnh Covid-19 gây ra là hoàn toàn đúng đắn, kịp thời, thể hiện rõ sự quyết tâm, đồng lòng và đồng hành cùng doanh nghiệp trong mọi hoàn cảnh.

Tuy nhiên, trên thực tế triển khai còn có nhiều vấn đề bất cập, vướng mắc, khiến những gói hỗ trợ dù rất lớn nhưng cuối cùng không có nhiều doanh nghiệp, người thuộc diện hỗ trợ tiếp cận được.

Nguyên nhân đã được nói đến nhiều rồi: do điều kiện khắt khe, thủ tục phức tạp, nhiêu khê, hầu hết các doanh nghiệp không đáp ứng được các điều kiện đặt ra, khiến doanh nghiệp chưa xin đã chán nản, bỏ cuộc.

Lấy ví dụ ở điều kiện vay vốn để trả lương ngừng việc với người lao động của doanh nghiệp, quy định một trong những điều kiện để được vay lãi suất 0% là doanh nghiệp phải có từ 20% hoặc từ 30 người lao động trở lên đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải ngừng việc từ 1 tháng liên tục trở lên. Quy định như vậy là quá chặt, chưa hợp lý. Bởi lẽ, nhiều doanh nghiệp chỉ thực hiện cắt giảm giờ làm hoặc bố trí người lao động làm luân phiên, chứ không cho người lao động nghỉ việc, theo tinh thần doanh nghiệp và người lao động cùng chia sẻ với nhau.

Hay điều kiện doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính, không cân đối đủ nguồn để trả lương ngừng việc cho người lao động, đã sử dụng hết quỹ dự phòng tiền lương để trả lương cho người lao động cũng vậy. Nếu quy định doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính, không cân đối đủ nguồn để trả lương, thì chẳng khác gì doanh nghiệp đó đã chết, như vậy thì cần gì phải vay nữa?

Mặt khác, tài chính của doanh nghiệp còn liên quan tới uy tín, lòng tin của doanh nghiệp với khách hàng, đối tác, một khi những thông tin về dòng tiền của doanh nghiệp bị suy kiệt, không có nguồn, bị lộ ra ngoài thì sẽ không một đối tác nào đủ tự tin hợp tác với doanh nghiệp nữa, không doanh nghiệp nào muốn làm như vậy.

Hơn nữa, doanh nghiệp nếu có tiếp cận được gói hỗ trợ thì số tiền cũng không đáng bao nhiêu do tổng cả gói hỗ trợ dù rất lớn nhưng đối tượng cần hỗ trợ cũng quá nhiều. Chính vì những lý do như vậy mà doanh nghiệp không mấy mặn mà dù đang rất “khát” vốn.

Đứng trước hàng loạt những vấn đề vướng mắc như vậy còn chưa được giải quyết lại tiếp tục đề xuất gói hỗ trợ thứ hai, chắc chắn sẽ khiến dư luận băn khoăn. Phía Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM từng rất mong chờ và từng có kiến nghị nên có gói hỗ trợ thứ hai nhằm hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp duy trì, phục hồi sản xuất. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đề xuất chỉ khả thi khi những điều kiện, tiêu chuẩn hỗ trợ được rút gọn, đơn giản, giảm bớt thời gian, thủ tục rườm rà, phức tạp thì chính sách hỗ trợ mới hiệu quả.

Khi triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn trong bối cảnh dịch bệnh cần phải được đặt ngang hàng với các biện pháp cấp cứu cho người bệnh đang nguy kịch vậy. Nếu người bệnh đang hấp hối mà còn phải chờ làm thủ tục, nhập viện rồi mới cho thuốc thì e là tới lúc có được thuốc người bệnh đã chết rồi. Việc hỗ trợ cũng vậy, nếu cứ đặt ra quá nhiều điều kiện mang tính bó buộc doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp không thể tiếp cận được các gói hỗ trợ, thì có một gói hỗ trợ hay thêm nhiều gói hỗ trợ, đề xuất cũng chỉ mang tính hình thức, khó giúp được doanh nghiệp.

PV: Trong một động thái khác, Bộ LĐ-TB&XH cho biết đang dừng vô thời hạn với gói hỗ trợ đề xuất 3.000-5.000 tỷ đồng để đào tạo, đào tạo lại tay nghề cho lao động. Đề xuất này dự định được đưa vào trong gói hỗ trợ kinh tế lần thứ 2, tuy nhiên do vướng mắc về cơ chế nên đề xuất này đã bị rút và hiện không bàn nữa.

Thông tin này được đưa ra sau khi chính Ngân hàng Nhà nước công bố thực tế việc doanh nghiệp không thể tiếp cận được gói hỗ trợ doanh nghiệp do vướng mắc về các điều kiện cho vay tại Nghị quyết 42 của Chính phủ. Cho tới nay, những vướng mắc trong việc tiếp cận gói hỗ trợ vẫn còn nguyên, dù những đề xuất nới rộng điều kiện vay cho doanh nghiệp đã được đưa ra. Rõ ràng, đây là một nghịch lý, đặc biệt khi cứu doanh nghiệp lẽ ra phải gấp như cứu hỏa.

Trong bối cảnh như vậy, việc tiếp tục đề xuất thêm một gói hỗ trợ mới liệu có phù hợp không? Điều này gợi nên suy nghĩ về một cuộc chạy đua lập gói hỗ trợ chỉ nhằm xây dựng hình ảnh, chứng tỏ sự mẫn cán, hơn là hiệu quả thực chất. Ông chia sẻ thế nào với những nhận xét này?

Ông Phạm Ngọc Hưng: Động thái trên càng cho thấy rõ sự lúng túng, loay hoay của các cơ quan quản lý trong triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Rõ ràng, có quá nhiều điều kiện, tiêu chuẩn hỗ trợ mang tính bó buộc khiến doanh nghiệp không thể tiếp cận được gói hỗ trợ, trong khi cách thức thực hiện chính sách hỗ trợ lại chưa phù hợp với thực tế. Dù mới đây Bộ LĐ-TB&XH đã có đề xuất hạ tiêu chí, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp gặp khó do đại dịch dễ tiếp cận vốn vay để trả lương cho người lao động, nhưng động thái này cũng chưa thể khẳng định những khó khăn, vướng mắc trước đó sẽ được khắc phục hoàn toàn.

Phải khẳng định, tác động của dịch bệnh tới nền kinh tế là rất lớn, hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà nguyên nhân là do mất cân bằng về cung-cầu thị trường dẫn tới nguồn thu giảm sút, doanh nghiệp phải phá sản, hoặc phải thu hẹp quy mô, sản xuất cầm chừng.
Điều tôi băn khoăn là khi triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, các cơ quan quản lý đã tìm hiểu, tiếp cận, lắng nghe những mong muốn, nguyện vọng của doanh nghiệp chưa? Đã thật sự hiểu doanh nghiệp cần gì, muốn gì hay chưa?

Đồng ý, trong bối cảnh khó khăn hiện nay, doanh nghiệp rất cần tiền, nhưng không chỉ có tiền và tiền cũng không phải điều kiện đầu tiên họ mong muốn được hỗ trợ. Cái doanh nghiệp cần hơn cả là các giải pháp hỗ trợ giúp doanh nghiệp duy trì thị trường cung cấp nguyên liệu sản xuất truyền thống, tìm kiếm thị trường thay thế và đẩy mạnh khai thác nguồn cung trong nước.

Như vậy, ở thời điểm hiện tại chính sách hỗ trợ thực tế hơn là phải tạo ra các khoản kích cầu, qua đó kích thích sức sản xuất từ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp khôi phục lại sản xuất, từng bước khắc phục khó khăn để phát triển bền vững hơn.

Ví dụ, nếu giảm được 50% thuế VAT tôi chắc chắn đây chính là giải pháp mà doanh nghiệp nào cũng mong muốn. Khi giảm thuế VAT sẽ giúp giảm chi phí cho người tiêu dùng nhằm kích cầu cho các ngành sản xuất trong nước hồi phục ngay và sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Với giải pháp này cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và nhà nước đều có lợi. Còn nếu để doanh nghiệp đã chết rồi mới cứu thì không chỉ mình doanh nghiệp chết mà sẽ kéo theo sự “chết chùm” của cả nền kinh tế.

Tôi lưu ý, vừa rồi TP.HCM tổ chức vinh danh 100 doanh nghiệp tiêu biểu đã vượt qua dịch bệnh Covid-19, tiếp tục trụ vững và phát triển tốt, nhưng trong số này không có doanh nghiệp nào vượt “bão” thành công nhờ vào gói hỗ trợ. Điều này càng cho thấy tác động của các gói hỗ trợ tới doanh nghiệp gần như không có. Nếu phân tích được như vậy sẽ thấy hỗ trợ tiền bạc không phải là ưu tiên số 1.

Tương tự về việc Bộ LĐ-TB&XH xin hoãn vô thời hạn gói hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại tay nghề lao động cũng không lấy làm lạ.

Là người từng trực tiếp triển khai các giải pháp đào tạo nâng cao tay nghề nguồn nhân lực, tôi xin khẳng định ngay, đề xuất hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại tay nghề cho người lao động ở thời điểm này là không phù hợp. Bởi nếu có triển khai được gói hỗ trợ này cũng chưa chắc người lao động muốn đi học nghề, ngay cả có thực hiện đào tạo thì cũng không biết sẽ đào tạo gì và đào tạo xong sẽ làm ở đâu. Vì thị trường lao động phải gắn với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Trong khi các doanh nghiệp còn đang khó khăn xoay trở với sự sống còn của mình thì làm sao có tâm tư tính tới việc đào tạo hay đào tạo lại lao động?

Về phía người lao động, tác động của dịch bệnh trong suốt thời gian dài cũng đã gây ra không ít khó khăn, ảnh hưởng lớn tới nguồn thu cũng như đời sống, sinh hoạt của họ. Trong bối cảnh đó, không ít người đã chấp nhận nghỉ việc, chạy xe ôm, Grab, ship hàng để kiếm thêm thu nhập, duy trì cuộc sống, thay vì bám trụ với công việc.

Tôi không cho rằng, đây là một cuộc chạy đua lập gói hỗ trợ để xây dựng hình ảnh, chứng tỏ sự mẫn cán, nhưng cũng có bóng dáng của căn bệnh thành tích, còn mang nặng tính thủ tục, hình thức, nhiều hơn là hiệu quả thực chất.

Với những nhận định trên, tôi vẫn cho rằng cần phải có những đánh giá, rút kinh nghiệm cụ thể trong triển khai, thực hiện các gói hỗ trợ trước đó rồi mới tính tới những gói hỗ trợ mới. Ví dụ, gói hỗ trợ lần thứ nhất hiệu quả đến đâu? Cứu được bao nhiêu doanh nghiệp? Nếu không hiệu quả thì nguyên nhân vì sao và phải thay đổi thế nào?

Điều quan trọng nhất là phải xác định lại khó khăn nhất của doanh nghiệp hiện nay là gì và doanh nghiệp cần hỗ trợ gì nhất, trên cơ sở đó mới đưa ra đề xuất, triển khai các giải pháp hỗ trợ cho phù hợp.

Không để hỗ trợ thành cuộc chạy đua xin-cho

PV: Cũng cần nói thêm, ngay từ khi manh nha những ý tưởng đề xuất hình thành gói hỗ trợ lần thứ nhất đã lập tức xuất hiện hiện tượng chạy đua xin ưu đãi, từ các bộ, ngành, cho tới các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước, lĩnh vực nào, bộ, ngành nào cũng muốn xin ưu đãi cho mình. Điều này dấy lên những lo ngại, ưu đãi lại trở thành cuộc chạy đua, ai mạnh xin, ai giỏi xin thì được, ai yếu thế thì thiệt và như vậy cuối cùng ưu đãi lại là cơ hội để hỗ trợ, để cứu những người giàu, những doanh nghiệp lớn, còn khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đã gặp khó khăn lại càng không thể tiếp cận được. 

Từ thực tế trên cũng gợi nên lo ngại về việc mỗi bộ ngành chỉ quan tâm tới doanh nghiệp, người lao động thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Liệu đây có phải là cách làm phù hợp?

Ông Phạm Ngọc Hưng: Không sai, thực trạng trên khiến không ít người phải lo lắng. Chạy đua xin ưu đãi làm méo mó thị trường, tạo tâm lý phân biệt đối xử, thiếu công bằng giữa các thành phần kinh tế với nhau.

Tôi lấy ví dụ trong lĩnh vực hàng không, trên thế giới, các hãng hàng không đều được đối xử bình đẳng, không có chuyện bám víu mãi vào “bầu sữa ngân sách”. Nếu hãng hàng không nào khó khăn, không thể tồn tại được thì xin phá sản, rất đàng hoàng, sòng phẳng.

Ở Việt Nam cũng nên đi theo cơ chế như vậy để loại bỏ bớt tâm lý ỉ lại, xin cho. Cơ chế ưu đãi là để hỗ trợ chung cho toàn nền kinh tế, vì vậy cơ hội tiếp cận ưu đãi cho tất cả các thành phần kinh tế là như nhau, không nên tồn tại tư duy cứu doanh nghiệp này bỏ doanh nghiệp kia. Càng không nên có tâm lý là doanh nghiệp nhà nước thì cứ khó là xin, xin là được.

Nên nhớ, cái mà khu vực kinh tế tư nhân cần không phải là ưu đãi, mà là cơ chế bình đẳng, công bằng.

Do đó, để tránh tình trạng chạy đua xin ưu đãi, không để ưu đãi trở thành ưu đãi của riêng bộ, ngành hay doanh nghiệp nào, thì chính sách ưu đãi nên đi theo hướng hỗ trợ trực tiếp cho thị trường. Khi thị trường tiêu thụ sôi động trở lại, sản xuất sẽ dần khôi phục. Với cách làm như vậy vừa bảo đảm an toàn ngân sách, vừa bảo đảm hiệu quả cho chính sách hỗ trợ.

Việc để mỗi bộ, ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp tự xin, tự đề xuất các gói hỗ trợ như thời gian qua là không đúng thực tế.

PV:  Từ những khúc mắc trên, theo ông nên hỗ trợ doanh nghiệp như thế nào? Vai trò quản lý phải được thể hiện ra sao? Quan điểm của ông trong chuyện này?

Ông Phạm Ngọc Hưng: Như đã nói ở trên, tư duy hỗ trợ doanh nghiệp cần phải thay đổi theo hướng tiếp cận thực tế hơn, đó là hỗ trợ cái mà doanh nghiệp cần, chứ không chỉ hỗ trợ cái mà doanh nghiệp thiếu. Nếu người ta đau bụng mà lại cho uống thuốc nhức đầu thì không thể hết đau bụng, mà bản thân họ cũng không cần.

Như vậy, cái doanh nghiệp cần chính là giải pháp khơi thông nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Việc này tưởng khó nhưng không phải không thể làm được.

Điển hình có một doanh nghiệp tại TP.HCM chỉ trong 2 tuần đã mở liên tiếp 5 siêu thị kinh doanh mỹ phẩm trong thời gian vừa qua. Theo họ đây là thời điểm rất thuận lợi bởi chính các hãng mỹ phẩm lớn trên thế giới đều đang cần tìm thị trường tiêu thụ. Vì thế, doanh nghiệp không cần mất thời gian tìm hiểu, kết nối, mà tự các thương hiệu, nhãn hàng tìm tới họ chào hàng, đưa ra chính sách cung cấp ưu đãi. Trong khi giá thuê mặt bằng thời điểm này đang giảm, việc tìm kiếm nguồn nhân lực có chất lượng vừa rẻ lại vừa dễ.

Nhưng để làm được như vậy, doanh nghiệp phải có thông tin và từ thông tin đó họ tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp theo hướng đi phù hợp. Tôi xin nhấn mạnh, đây chính là thời điểm sống còn của doanh nghiệp, chính việc nắm bắt thông tin nhanh nhạy là nhân tố giúp quá trình tái cấu trúc của doanh nghiệp thành công hay thất bại.

Cũng nhờ nắm bắt được điều đó, vừa rồi Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM thông qua các mối quan hệ tốt với các đối tác Việt Nam ở các nước nên đã tiếp cận, nắm bắt được thông tin kịp thời về nguồn cung – cầu của thị trường các nước. Từ thông tin nắm được, Hiệp hội đã giúp các doanh nghiệp tự sắp xếp lại quy mô, tổ chức sản xuất và đã mang lại những hiệu quả nhất định, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, trụ vững trong dịch bệnh.

Về vai trò quản lý, sự đồng hành giữa nhà nước và doanh nghiệp trong bối cảnh khó khăn hiện nay là rất quan trọng. Trong đó, vai trò của nhà nước là tạo ra môi trường thông thoáng, giúp doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, có cơ hội tiếp cận, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.

Bên cạnh việc tung ra các gói hỗ trợ, cần đẩy mạnh cắt giảm, cải cách thủ tục hành chính, ngăn chặn triệt để tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực… Nếu làm được như vậy chắc chắn sẽ tạo ra những động lực giúp doanh nghiệp sớm phục hồi, từng bước khắc phục những khó khăn hiện tại.

PV: Xin cảm ơn ông!

Lan Vũ (thực hiện)

Thứ Hai, 19/10/2020 07:35

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện