Việt Nam đón sóng FDI mới: Đừng theo số lượng!

(Doanh nghiệp) - ThS Nguyễn Bình Minh (ĐH Thương mại) lưu ý Việt Nam cần chuẩn bị để đón dòng vốn FDI mới, đưa nền kinh tế vận hành bình thường trở lại.

Giải mã sức hút

PV: - Chính phủ Nhật Bản vừa tuyên bố sẽ khởi động một chương trình trợ cấp nhằm khuyến khích các nhà sản xuất trong nước chuyển cơ sở sản xuất ở nước ngoài tới Đông Nam Á trong bối cảnh đại dịch Covid-19 làm rối loạn chuỗi cung ứng của những công ty này, vốn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Những cuộc thảo luận về dịch chuyển hoạt động sang Đông Nam Á cũng diễn ra ở Mỹ và thời gian tới có thể sẽ thêm cả các nước thuộc Liên minh châu Âu nhằm phân tán rủi ro, sắp xếp lại mạng lưới sản xuất toàn cầu trong đầu tư quốc tế.

Đây có phải là cơ hội để Việt Nam trở thành một điểm đến của những dòng đầu tư mới? Nếu được, điều này sẽ có ý nghĩa như thế nào trong nỗ lực đưa nền kinh tế Việt Nam vận hành bình thường trở lại? Bản thân Việt Nam có gì để thu hút đầu tư nước ngoài thời Covid-19, thưa ông?

ThS Nguyễn Bình Minh: - Thời gian qua, Việt Nam là một trong những quốc gia chống dịch Covid-19 thành công nhất thế giới. Số lượng người nhiễm bệnh/100 triệu dân rất ít và không có ca nào tử vong. Nhìn chung, kinh tế không bị thiệt hại quá lớn dù nhiều hoạt động bị ngưng trệ.

Điều này được cộng đồng thế giới đánh giá rất cao, thậm chí Việt Nam được nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 coi là một hình mẫu. Đây được xem là động lực quan trọng giúp kéo nhiều hơn nguồn vốn ngoại vào Việt Nam sau đại dịch. Việc đầu tư vào Việt Nam có thể trở thành một xu hướng mang lại sự ổn định, an toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong tương lai, nhất là khi dịch Covid-19 chưa được kiểm soát.

Trước khi đại dịch Covid-19 xảy ra, đã có làn sóng dịch chuyển đầu tư khỏi Trung Quốc vì nhiều lý do, trong đó phải kể đến cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Khi dịch bệnh xảy ra, sự tê liệt các hoạt động kinh tế một thời gian dài đã khiến các chính phủ nỗ lực di chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc và tìm đến những thị trường ổn định hơn. Việt Nam đã cho thấy mình là một thị trường có sự ổn định cả về chính trị, kinh tế và xã hội.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/4, thu hút FDI 4 tháng đầu năm 2020 chỉ bằng 84,5% so với cùng kỳ năm 2019. Bộ này nhận định, mặc dù vốn đăng ký cấp mới và vốn điều chỉnh tăng hơn so với cùng kỳ, song góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài lại giảm mạnh, làm giảm tổng vốn đầu tư. Đối với góp vốn, mua cổ phần, có 3.210 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị gần 2,48 tỷ USD, chỉ bằng 34,7% so với 2019.

Viet Nam don song FDI moi: Dung theo so luong!
ThS Nguyễn Bình Minh

Dù thu hút FDI của Việt Nam trong những tháng đầu năm suy giảm so với cùng kỳ năm 2019, nhưng vẫn cao hơn so với những năm trước đây. Sự suy giảm này là điều dễ hiểu, do dịch bệnh Covid-19 lây lan khiến kinh tế thế giới bị tê liệt, thị trường chứng khoán lao dốc kéo theo vốn ngoại không đổ vào Việt Nam nhiều như giai đoạn trước. Tuy nhiên, vẫn phải công nhận rằng, đạt được mức đầu tư đó, có thể tự hào Việt Nam khá thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, ngay cả trong thời kỳ xảy ra dịch bệnh.

Việc Nhật Bản, Mỹ hay các nước châu Âu có công nghệ cao muốn dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á cũng là điều bình thường vì các doanh nghiệp muốn tái thiết kế chuỗi cung ứng của mình để giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc, đồng thời giảm nguy cơ nếu dịch bệnh tái diễn.

Bởi vậy, coi Việt Nam là một điểm đến hứa hẹn của dòng vốn FDI mới sau dịch bệnh là có cơ sở, bởi chúng ta đã có hai thành công: thành công trong kiểm soát dịch bệnh và nền tảng, cơ chế để thu hút đầu tư của Việt Nam rất tốt.

Tôi cho rằng Việt Nam có kinh nghiệm, đối sách phù hợp trong phòng chống dịch bệnh chính là căn cứ quan trọng mở ra cơ hội mới cho Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, việc Chính phủ Việt Nam ban hành các gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn, trong đó bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cũng góp phần làm tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ thấy không bị bỏ rơi trong lúc khó khăn.

Tuy nhiên, đây chỉ là yếu tố trợ giúp, bởi nhiều quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp trong dịch bệnh với các gói hỗ trợ rất lớn. Bản thân các doanh nghiệp khi kinh doanh phải phòng ngừa rủi ro, hơn là trông chờ vào sự cứu trợ. Phòng ngừa rủi ro được doanh nghiệp tính toán dựa trên khả năng ổn định, kiểm soát dịch bệnh của Việt Nam trong thời gian qua và đó là căn cứ để các doanh nghiệp lựa chọn Việt Nam là điểm đến lý tưởng của dòng vốn đầu tư.

Nếu hàng loạt doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam và chúng ta được đón dòng vốn đầu tư mới thì đó là điều rất tốt, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động cũng như cơ hội cải tiến công nghệ, thế nhưng không phải không có điểm lo ngại.

Điều đáng lo nhất là hiện tượng hàng giả, hàng kém chất lượng “đội lốt” hàng Việt. Thương hiệu “Made in Vietnam” hay “Make in Vietnam” hiện bắt đầu vươn lên và khá có uy tín trên thị trường quốc tế, Việt Nam được nhiều quốc gia nhìn nhận như một nơi sản xuất hàng hóa có chất lượng. Khi chúng ta đã có uy tín, thương hiệu trên thị trường quốc tế thì việc bảo vệ thương hiệu đó dần trở nên khó khăn. Đã có hàng loạt vụ đội lốt hàng Việt Nam bán ra thị trường trong nước và xuất khẩu, ảnh hưởng đến uy tín của hàng Việt.

Bởi vậy, trước làn sóng di chuyển vốn đầu tư mới, Việt Nam phải hết sức thận trọng, không để doanh nghiệp ngoại mượn làn sóng này biến Việt Nam thành nơi “đội lốt”, hoặc để thực hiện các hoạt động khác ảnh hưởng tiêu cực đến hàng Việt và doanh nghiệp Việt. Bên cạnh đó, Việt Nam phải phòng ngừa tình trạng chuyển giá của các nhà đầu tư nước ngoài, báo lỗ để không phải thực hiện nghĩa vụ, gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.

Quá trình cân bằng lại

PV: - Nếu việc chuyển dịch dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc sang các quốc gia khác tiếp tục diễn ra thì ông hình dung diện mạo nền kinh tế thế giới sẽ thay đổi  thế nào và vai trò Trung Quốc có bị giảm sút không? Việc chuyển dịch đó có khó khăn không khi Trung Quốc từng được coi là “công xưởng của thế giới” với chi phí sản xuất rẻ hơn so với các quốc gia khác?

ThS Nguyễn Bình Minh: - Theo tôi, sự dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang các quốc gia khác không ảnh hưởng nhiều tới diện mạo kinh tế thế giới, bởi theo xu hướng, vị thế của Trung Quốc cũng như lợi nhuận biên phải giảm dần.

Trước đây, khi Trung Quốc tăng trưởng nóng, những lợi thế của nước này như giá lao động rẻ, chi phí sản xuất rẻ... đã giúp cho Trung Quốc trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Điều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp nước ngoài coi thị trường Trung Quốc là điểm mấu chốt, tập trung đầu tư vào đây, thậm chí đặt cược vào thị trường này. Chỉ đến khi xảy ra khủng hoảng, phải trả giá vì đầu tư quá đà vào thị trường lớn nhất thế giới, các doanh nghiệp nước ngoài mới thấy sự cần thiết phải phân tán rủi ro.

Khi ấy, việc lựa chọn dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam hay sang các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á chỉ là giải pháp để cân bằng chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp nước ngoài, giảm bớt rủi ro. Đây là chuyện hết sức bình thường, giống như các nhà đầu tư đổ xô vào thị trường chứng khoán, cổ phiếu tăng giá nhưng giá ảo hơn giá thực tế và khi suy giảm thì cũng suy giảm dưới giá thực tế.

Bởi vậy, trong trường hợp này, đó là quá trình cân bằng lại. Các doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn giải pháp dịch chuyển đầu tư không có nghĩa là họ sẽ rút chạy khỏi thị trường Trung Quốc, rút toàn bộ nguồn lực từ Trung Quốc sang Việt Nam hay các quốc gia Đông Nam Á khác. Điều mà các doanh nghiệp nước ngoài muốn là có một mức độ an toàn cao hơn cho hoạt động sản xuất – thương mại toàn cầu của họ và họ chọn Việt Nam hay các quốc gia Đông Nam Á khác không phải như một giải pháp thay thế hoàn toàn.

Việt Nam cần chuẩn bị gì?

PV: - Để có thể tận dụng cơ hội, biến khó khăn thành bệ đỡ trong thu hút FDI, theo ông, Việt Nam nên chuẩn bị thế nào để đón được dòng đầu tư này, để nó mang lại cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam thay đổi căn bản về chất, đồng thời giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc?

Viet Nam don song FDI moi: Dung theo so luong!
Thành công trong phòng chống dịch Covid-19 mở ra cơ hội mới cho Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài

ThS Nguyễn Bình Minh: - Đối với các doanh nghiệp công nghệ cao, việc này khá đơn giản. Các doanh nghiệp chỉ cần lựa chọn, hỗ trợ chính xác nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao, hàng đầu thế giới.

Ví dụ, các nhà sản xuất hàng đầu như Samsung, Apple, Google, Microsoft... là những doanh nghiệp đang có ý định triển khai đầu tư trọng điểm hơn ở Việt Nam. Chúng ta chỉ cần có biện pháp giám sát, thẩm định, đánh giá. Bản chất các doanh nghiệp này đã là các thương hiệu lớn, trình độ quản trị của họ rất cao, Việt Nam cần phải có một đội ngũ có chuyên môn để hỗ trợ họ, vừa đảm bảo các dự án đầu tư thành công, vừa đảm bảo an toàn về môi trường, đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích của người lao động, cũng như thu hút được các công nghệ cao hàng đầu thế giới đến Việt Nam.

Đối với những ngành sản xuất công nghiệp khác, thời gian qua chúng ta đã chứng kiến sự dịch chuyển sản xuất công nghiệp, chuỗi cung ứng. Bởi vậy, nếu là nguyên vật liệu nhập khẩu thì Việt Nam phải thận trọng hơn, đề phòng trường hợp Việt Nam nhận phải những dây chuyền công nghệ lỗi thời và trở thành "bãi rác công nghệ".

Đối với các dự án đầu tư và sản xuất nguyên vật liệu ngay tại Việt Nam thì nên khuyến khích vì nó giúp chúng ta trở thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời đảm bảo tính bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.

PV: - Một điều được các chuyên gia chỉ ra từ nhiều năm qua, đó là một thời gian dài Việt Nam chỉ chăm chăm chạy theo số lượng, thu hút đầu tư nước ngoài càng nhiều càng tốt, mà thiếu tính toán cái được, cái mất. Từ bài học đó, theo ông, Việt Nam cần cân nhắc trong việc lựa chọn vốn đầu tư thế nào, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế đang cần nguồn lực tài chính lớn để vận hành bình thường trở lại sau đại dịch?

ThS Nguyễn Bình Minh: - Các dự án đầu tư nước ngoài có nguồn lực tài chính lớn, đến từ các công ty có tiềm lực là những dự án cần phải quan tâm vì đối với những doanh nghiệp startup hay doanh nghiệp nhỏ, đại dịch Covid-19 đã khiến tiềm lực tài chính của họ suy yếu nặng nề và không ổn định, dù những doanh nghiệp này có thể rất linh hoạt.

Chính sự không ổn định, tiềm lực tài chính thiếu và yếu có thể dẫn đến việc đầu tư dở dang, thậm chí có những dự án bị treo, mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc của phía doanh nghiệp bạn, thậm chí của cả Việt Nam. Trong nhiều năm qua, chúng ta đã chứng kiến có những dự án bị treo đến hơn chục năm, vì vậy phải lựa chọn nhà đầu tư có tiềm lực, có công nghệ mới, đảm bảo an toàn về môi trường, sự phát triển lâu dài tại Việt Nam.

Đó là điều cần quan tâm để tránh chạy theo số lượng, vì ở giai đoạn này, làn sóng dịch chuyển đầu tư sang các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đang trở thành xu hướng và Việt Nam có lợi thế để lựa chọn các nhà đầu tư hơn giai đoạn trước đây – giai đoạn thu hút đầu tư bằng mọi giá, ưu đãi thật nhiều để kéo nhà đầu tư đến Việt Nam. Mặc dù thu hút FDI của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2020 suy giảm so với cùng kỳ năm 2019, nhưng như đã nói, đó là do ảnh hưởng của sự suy giảm chung của nền kinh tế toàn cầu, còn Việt Nam vẫn đang nổi trội về thu hút đầu tư.

Chính bởi lợi thế đó nên Việt Nam có quyền và nên tận dụng quyền của mình để lựa chọn các dự án đầu tư hiệu quả cao, công nghệ bền vững để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế trong tương lai, đặc biệt phải lựa chọn các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, uy tín để tránh các dự án treo, dẫn đến thiệt hại cho cả Việt Nam.

Chúng ta đã có Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 đóng vai trò tạo ra đường lối để các doanh nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc rất nhiều vào sự vận hành của các cơ quan chính phủ, các đơn vị kiểm soát đầu tư, các đơn vị soạn thảo chính sách của Nhà nước.

Có lẽ, trong thời gian tới lượng đầu tư sẽ tăng nhanh, việc nâng cao trình độ chuyên môn cho các cơ quan này rất cần thiết, đặc biệt là trong vấn đề thẩm định, bồi dưỡng đạo đức để tránh buông lỏng quản lý, sai phạm dẫn đến phê duyệt những dự án gây ô nhiễm môi trường, thiệt hại cho nền kinh tế, kéo theo hệ lụy lâu dài.

Hiện Chính phủ Việt Nam đang giành được lòng tin lớn lao của nhân dân và cả các nhà đầu tư nước ngoài khi kiểm soát thành công dịch bệnh Covid-19. Bây giờ chúng ta phải tiếp tục siết chặt kỷ cương để tránh xảy ra những sai phạm không đáng có làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân trong việc thu hút đầu tư, để không dẫn tới những dự án gây thiệt hại cho đất nước.

Thành Luân

Thứ Hai, 11/05/2020 11:29

Sự Kiện