Việt Nam thiếu than vẫn làm nhiệt điện: Thói quen 'sẵn đào'...

(Doanh nghiệp) - Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nguồn năng lượng sạch, tuy nhiên thói quen 'sẵn đào' khiến người ta ngại đầu tư.

Giải pháp tình thế

Trước việc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV)  thông báo không thể vận chuyển được than, ngày 28/7 vừa qua Tập đoàn Điện lực (EVN) đã có thông cáo khẳng định hàng loạt nhà máy của mình chỉ còn đủ than dự trữ từ 4,5 đến 20 ngày, tùy nơi. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, kể cả không có đợt mưa lũ vừa rồi, trữ lượng than ở Quảng Ninh cũng không còn bao nhiêu. Trước đó, cũng có nhiều ý kiến cảnh báo nguồn than của Việt Nam đang suy giảm một cách nhanh chóng, và đến năm 2025 sẽ cạn kiệt.

Viet Nam thieu than van lam nhiet dien: Thoi quen 'san dao'...
Mong than Hà Tu ở Quảng Ninh bị tàn phá nặng nề vì mưa lũ. Ảnh: VietNamNet

Trao đổi với Đất Việt ngày 9/8, PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cho rằng, việc sử dụng các nhà máy nhiệt điện chỉ là giải pháp tình thế bởi chúng không bền vững, vừa gây hại môi trường vừa là nguồn năng lượng hạn chế.

"Tôi thấy hơi lạ khi trước mắt Việt Nam vẫn xây dựng các nhà máy nhiệt điện than bởi xét về lâu dài và tính bền vững thì không nên", PGS Khiển nói.

Theo ông, không chỉ riêng Quảng Ninh mới có than, ở Thái Nguyên, Tây Bắc... cũng có nhưng là các mỏ nhỏ lẻ. Bởi vậy, để giải quyết nguồn than trước mắt, Việt Nam chắc chắn phải nhập khẩu than.

Từ lâu, Việt Nam đã nhập khẩu than của Indonesia, chủ yếu là than antraxit. Trong khi đó, từ năm 1991, phía Việt Nam đã ký hợp đồng cho phép nhà đầu tư Indonesia khai thác mỏ than lộ thiên ở TP Uông Bí và cũng là nơi có vỉa than tốt hạng nhất ở Quảng Ninh. Đổi lại, phía doanh nghiệp Indonesia sẽ đầu tư toàn bộ máy móc, công nghệ khai thác trong 30 năm mỏ than này.

"Một thời gian dài báo chí nói về hợp đồng này bởi nhà đầu tư Indonesia khai thác bao nhiêu, xuất khẩu bao nhiêu... phía Việt Nam đều không nắm được. Điều hết sức buồn cười là Việt Nam cho doanh nghiệp Indonesia xuất khẩu than rồi lại nhập than từ chính Indonesia về, có khi lại là nhập than của chính mình".

Một chuyên gia giấu tên rất am hiểu về các dự án nhiệt điện cũng nhận xét, vấn đề cung cấp than cho điện là một vấn đề chiến lược. Theo Quy hoạch điện VII định hướng đến năm 2030, tỷ lệ các nhà máy nhiệt điện than của Việt Nam chiếm 51,6% tuy nhiên điều quan trọng là lấy than ở đâu cho các nhà máy vận hành?

"Nguồn than ở trong nước chỉ đáp ứng được 30% và đến năm 2025 sẽ hết than nếu khai thác như mức hiện nay. Nhiều ý kiến trước đây phê phán tại sao Việt Nam thiếu than, phải nhập khẩu mà lại vẫn xuất khẩu? Đó là vì than Việt Nam khó cháy. Đối với than đốt trong lò hơi để phát điện (steam coal), loại than tốt nhất là than bitum và á bitum, còn than antraxit rất khó đốt, phải có dầu đốt kèm, chưa kể tổn thất do cháy không hết rất nhiều, có thể tới 20% cácbon chưa cháy hết còn lại trong tro.

Xưa nay nhiều người cứ nghĩ Việt Nam rất nhiều than, đó là suy nghĩ không tưởng. Thậm chí trước đây còn có lập luận rằng, với mức khai thác than cao nhất của thời Pháp thuộc là 2 triệu tấn vào năm 1939 thì Việt Nam đủ than để khai thác trong 1.000 năm. Tuy nhiên, nếu tính toán theo mức khai thác của Ba Lan 280 triệu tấn/năm thì Việt Nam chỉ khai thác trong 7 năm là hết than.

Trong suốt thời kỳ bao cấp, ngành than chưa bao giờ vượt sản lượng 6 triệu tấn, rồi sau đó nâng lên hơn 20 triệu tấn nhờ chế độ khoán từng mỏ và đến nay sản lượng khai thác đã đạt 45-46 triệu tấn/năm. Thế nhưng sản lượng này vẫn không là gì so với nhu cầu than của ngành điện. Số than khai thác được phải dành một nửa cho các ngành kinh tế khác, một nửa dành cho điện. Hiện nay ngành điện có thể tạm thời không thiếu than, thậm chí còn thừa nên cho phép xuất khẩu nhưng chỉ một vài năm nữa sẽ không đủ than", vị chuyên gia giấu tên phân tích.

Thứ Ba, 11/08/2015 06:42

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện