Đằng sau việc Moody’s hạ triển vọng tín nhiệm kinh tế VN

(Tài chính) - Động thái của Moody’s đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo, không chỉ về cách thức quản trị nợ của Việt Nam.

Vào những ngày giữa tháng 12/2019, thông tin Moody's thông báo điều chỉnh triển vọng tín nhiệm của Việt Nam xuống mức Tiêu cực được xem như một mảng màu xám xấu xí không nên có trong bức tranh kinh tế Việt Nam vốn đang rất khả quan. Quyết định được đưa ra hơn 2 tháng sau khi hồ sơ tín dụng của Việt Nam bị đưa vào diện theo dõi hạ bậc.

Moody's đánh giá việc Chính phủ chậm trả nghĩa vụ nợ gián tiếp "là sự yếu kém về thể chế, quản trị, hơn là tài chính". Dẫu vậy, sự thật là chúng ta đã bị hạ triển vọng tín nhiệm và chắc chắn điều này sẽ kéo theo một số hệ lụy.

Quả thật, ngay sau quyết định của Moody’s về triển vọng tín nhiệm, 18 ngân hàng thương mại Việt Nam cũng bị điều chỉnh triển vọng tín nhiệm tương tự. Các vấn đề về lãi suất các khoản vay mới của Chính phủ cũng như tâm lý nhà đầu tư sẽ phát sinh mà sự phản ứng của Bộ Tài chính dù cần thiết nhưng khó có thể xoay chuyển tình hình.

Vậy thì, câu chuyện đầu tiên cần bàn ở đây, đúng như Moody’s nhận định, sự yếu kém trong quản trị. Không thể không mở rộng đôi tai mà nghe rõ, Việt Nam bị đánh giá “vẫn tiềm ẩn rủi ro của việc chậm trả nghĩa vụ nợ gián tiếp của Chính phủ trong bối cảnh chưa có những giải pháp rõ ràng để cải thiện công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan, cũng như tăng cường tính minh bạch về quản lý nợ được Chính phủ bảo lãnh”.

Điều này xem ra không có gì lạ. Không cần tới những chậm trễ trong việc trả nợ nước ngoài tại các dự án La Sơn – Túy Loan, Quốc lộ 20 và Thủy điện Hồi Xuân, nguyên nhân chính khiến Moody’s có đánh giá tiêu cực về triển vọng tín nhiệm Việt Nam, chúng ta đã nhìn thấy quá nhiều bài học nhãn tiền.

Dang sau viec Moody’s ha trien vong tin nhiem kinh te VN
Bộ Tài chính đã có những động thái phản ứng với quyết định hạ triển vọng tín nhiệm kinh tế Việt Nam của Moody’s

Vào tháng 10/2019, khi động thái tiêu cực về xếp hạng tín nhiệm Việt Nam được Moody’s đưa ra, những phân tích về tình hình nợ do Chính  phủ bảo lãnh đã được đề cập. Theo đó, đến cuối năm 2018, tổng giá trị các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh lên tới 27,7 tỉ USD, trong đó 23,6 tỉ USD vốn vay nước ngoài. Đáng nói là, báo cáo của Chính  phủ thời điểm đó đã thẳng thắn, nhiều dự án được Chính phủ bảo lãnh do khó khăn về tài chính đã không có khả năng trả nợ, đang phải thanh lý tài sản để thu hồi vốn hoặc phải tái cơ cấu do nợ quá hạn cao.

Trực quan hơn, trong khối nợ tại 12 đại dự án tai tiếng của ngành Công thương, có rất nhiều khoản một đi không trở lại. Bất cập, lãng phí trong hoạt động của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước vẫn đang tồn tại, tiềm ẩn rủi ro tại các khoản nợ Chính phủ bảo lãnh cho những đứa con cưng này. Khi yếu kém, sai phạm trong các chủ trương đầu tư làm thất thoát cả trăm, cả ngàn tỷ đồng chưa ‘hai năm rõ mười’, khi những vụ việc hiếm hoi bị lộ sáng chưa được xử lý nghiêm khắc, nút thắt trong vấn đề nợ do Chính phủ bảo lãnh chưa được tháo gỡ. Sẽ vẫn thấp thỏm, lo ngại về những kịch bản tương tự.

Đó là chưa kể, tình thế có thể đang dần trở nên phức tạp hơn. Theo cam kết, lịch trả nợ gốc trên danh mục nợ hiện hành của Việt Nam rơi vào những năm 2020-2021. Nói cách khác, trong hai năm tới, nghĩa vụ trả nợ gốc những khoản vay của chúng ta qua các thời kỳ tăng, đồng nghĩa, đỉnh trả nợ công rơi vào những năm này.

Trong khi đó, chúng ta đã phải vay để trả lãi, trả nợ gốc và vẫn tiếp tục duy trì vay để bù đắp bội chi. Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, nhu cầu vay của Chính phủ năm 2020 sẽ là 459,4 nghìn tỷ đồng, cao hơn dự toán vay của Chính phủ năm 2019 khoảng 50.000 tỷ đồng. Gần một nửa số trên sẽ dùng để bù đắp bội chi; một lượng tín dụng tương tự dùng để trả nợ gốc của ngân sách trung ương.

Dù có tự trấn an bằng nguyên tắc là đảo nợ mà không làm tăng nợ, khi lãi suất thay đổi, điều đương nhiên xảy ra đối với nhiều định chế tài chính, Việt Nam không thuộc nhóm nước được vay ưu đãi, gánh nặng nợ không thể không nặng nề thêm.

Không thể phủ nhận, sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam được coi là điểm cộng trong mắt các tổ chức xếp hạng tín dụng quốc gia như Moody’s. Mức tăng trưởng trên dưới 7% duy trì trong 3 năm trở lại đây và dự báo GDP tăng trung bình 7% trong giai đoạn 2021-2025 đảm bảo nợ công nằm trong ngưỡng an toàn, theo cách tính của Việt Nam. Dù vậy, vẫn dễ dàng nhìn ra những vấn đề rất đáng quan tâm. 

Thứ nhất, tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI là một thực tế không mới và đương nhiên không thể khiến nụ cười trọn vẹn. Vì thế, dù đã đạt được thành tích kinh tế ấn tượng, việc Việt Nam vẫn phải vay để bù đắp bội chi vẫn có thể lường trước. Điều này thể hiện tăng trưởng kinh tế không đi đôi tương xứng với mức thu ngân sách.

Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế Bùi Trinh giúp phân biệt rõ các mảng màu trên bức tranh kinh tế. Xét tỷ trọng đóng góp về giá trị gia tăng trong GDP của khối FDI, mức tăng chỉ đạt 3% trong giai đoạn 2000-2015 trong khi tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này tăng 10%.

Về nộp ngân sách, theo số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2011-2016, khu vực FDI có lợi nhuận trước thuế cao hơn khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước hơn 181%. Thế nhưng, thuế và các khoản nộp ngân sách của khu vực FDI chỉ bằng 81% khu vực ngoài nhà nước, trong đó đã tính cả thuế gián thu, vốn là khoản người dân Việt đóng góp vào ngân sách thông qua tiêu dùng sản phẩm của khu vực FDI. Trừ đi thuế gián thu, khu vực FDI nộp vào ngân sách chỉ bằng 51% khu vực ngoài nhà nước.

Như vậy, tiếp tục ưu ái quá mức doanh nghiệp FDI không phải là phép tính có lợi cho ngân sách. Thậm chí, phần thiệt hại có thể nhiều hơn bởi sự chèn ép không gian chính sách và nguồn lực, cùng với ưu thế công nghệ, vốn, quản lý của khối doanh nghiệp này sẽ làm giảm thiểu cơ hội tồn tại và lớn mạnh của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, hiện đang lãnh trọng trách lớn trong nộp ngân sách.

Mặt khác, cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc câu hỏi, phải chăng chúng ta đã chi quá nhiều cho bộ máy hành chính, dù cứ cho là để phục vụ cho hoạt động của nền kinh tế tăng trưởng hàng đầu khu vực. Giảm bội chi ngân sách là một khẩu hiệu luôn được đặt ra trong mỗi năm tài khóa, vậy mà kết quả đạt được xem ra quá khiêm tốn.

Sự cả lo thể hiện qua việc đặt ra mục tiêu bội chi ở một con số tương đối trên GDP mà không đưa ra con số tuyệt đối dường như thể hiện tư duy tiêu nhiều thì tăng trưởng nhiều. Điều này có thật xác đáng? Ngay cả việc tăng lương tối thiểu, một trong những quyết định được coi là để bảo vệ quyền lợi của người lao động, thì ai thật sự hưởng lợi? Khi ngân sách phình lên và tiếp tục phải vay để bù đắp bội chi, gần 100 triệu người dân Việt gánh thêm khoản nợ.

Đương nhiên, Việt Nam đã lập được những kỳ tích tăng trưởng nhưng với cách tiếp cận nêu trên, phải chấp nhận cả giả thiết, tăng trưởng chưa thực chất có thể mang đến những hê lụy mà trong không khí hân hoan thắng lợi, chúng ta đã không nhìn thật rõ.

Và trong năm 2020, dù có bay bổng với những dự đoán lạc quan đến đâu, không thể quên đi nhiệm vụ quan trọng: thiết kế, vận hành một chính sách thu hút đầu tư phù hợp, tạo không gian tồn tại cho doanh nghiệp trong nước và nhận lại phần hoàn trả xứng đáng vào ngân sách cho thảm đỏ chào đón những người bạn nước ngoài này.

Khánh Nguyên

Thứ Tư, 01/01/2020 13:38

Sự Kiện