Đề xuất tập đoàn, TCT vay lãi suất 0%: Không khả thi…

(Tài chính) - PGS.TS Nguyễn Hồng Nga (Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM) đề nghị nên ưu tiên hỗ trợ khu vực kinh tế ngoài nhà nước

‘Cho không biếu không’ không phải là giải pháp căn cơ

PV: - Một trong những đề xuất, kiến nghị giải pháp để các doanh nghiệp vượt qua ảnh hưởng của dịch Covid-19 được Ủy ban Quản lý vốn nhà nước (QLVNN) tại doanh nghiệp đưa ra mới đây là kiến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sớm có hướng dẫn về trình tự, thủ tục khơi thông nguồn vốn để các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sớm tiếp cận được gói hỗ trợ tín dụng 250.000 tỷ đồng, thời hạn cho vay tối thiểu 3 năm, lãi suất 0% phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh, thanh toán lương cho người lao động.

Thưa ông, đề xuất này của Ủy ban QLVNN tại doanh nghiệp có cơ sở hay không? Theo phản ứng mới nhất từ các ngân hàng thương mại, họ không thể bố trí những khoản vay với điều kiện này vì gói tín dụng 250.000 tỷ không phải tiền ngân sách nhà nước bỏ ra, mà là nguồn vốn thương mại của các ngân hàng. Ngân hàng phải huy động vốn từ người dân và doanh nghiệp để cho vay và phải chịu nhiều chi phí liên quan đến đồng vốn đó, nếu cho vay ra 0% thì ngân hàng khó sinh tồn được.

Trong trường hợp NHNN đồng ý với đề xuất trên thì nguồn lực phải lấy từ ngân sách và phải cấp bù lãi suất trả cho các ngân hàng. Nếu vậy liệu có khả thi không, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Theo Nghị định số 131 ngày 29/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban QLVNN tại doanh nghiệp thì đề xuất của Ủy ban là không có cơ sở vì nó không nằm trong chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban này.

Hơn nữa, những điều kiện về thời gian và lãi suất mà Ủy ban QLVNN tại doanh nghiệp đề xuất là bất khả thi và thiếu tôn trọng quy luật thị trường, cũng như quy định của Nhà nước. Đành rằng trong điều kiện hiện nay, tất cả các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng ít nhiều từ dịch Covid-19 nhưng việc ‘cho không biếu không’ không phải là giải pháp căn cơ, mà chỉ tạo tiền lệ xấu cho cả hệ thống kinh tế.

Xin lưu ý gói tín dụng này không phải từ trên trời rơi xuống, nguồn vốn chính của gói này là tiền gửi của người dân và doanh nghiệp, chứ không phải nguồn vốn từ ngân sách nhà nước (NSNN). Và gói tín dụng hơn 12 tỷ USD lần này chỉ tập trung để hỗ trợ các đối tượng trong nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi Covid-19, vì vậy những đối tượng được vay vốn chắc chắn là những doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh.

De xuat tap doan, TCT vay lai suat 0%: Khong kha thi…
PGS.TS Nguyễn Hồng Nga

Từ việc phân tích ở trên thì NHNN rất khó đồng ý với đề xuất của Ủy ban QLVNN tại doanh nghiệp. Còn việc giả định ‘ông bố’ vẫn “nuông chiều” những đứa con của mình thì nguồn lực chắc chắc phải lấy từ NSNN.

Đi vay nước ngoài thì rất khó, cho dù các ngân hàng như Ngân hàng châu Á (ADB) có gói cho vay nhưng họ sẽ kiểm soát việc sử dụng tiền vay và việc lấy tiền vay này bù đắp lãi suất cho các doanh nghiệp của Ủy ban là không khả thi.

PV: - Theo đánh giá của ông, nhóm doanh nghiệp nhà nước có phải là nhóm bị ảnh hưởng nhất bởi dịch bệnh Covid-19 hay không? Có hợp lý không khi tiếp tục ưu ái DNNN ở mức quá vượt trội so với nhóm doanh nghiệp tư nhân?

PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Theo đánh giá của cá nhân tôi và các nhà kinh tế thì có một số nhóm đối tượng sau đây bị ảnh hưởng xấu nhất từ dịch bệnh Covid 19.
Thứ nhất là các doanh nghiệp dịch vụ lữ hành, khách sạn, nhà hàng. Đây là nhóm ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch, vì người dân trong và ngoài nước đã hạn chế và bị hạn chế đi lại, trong khi chúng ta tạm dừng khai thác tất cả các đường bay thương mại quốc tế thường lệ và kiểm soát chặt chẽ đường biên giới.

Thứ hai là các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu, chế biến chế tạo. Nền kinh tế của Việt Nam với quy mô nhỏ và mở thuộc hàng top thế giới, vì thế bất kỳ biến động nào trên thế giới đều ảnh hưởng nhanh và nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta đã thấy rõ nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất để xuất khẩu phần lớn nhập khẩu từ nước ngoài, nền công nghiệp phụ trợ của ta rất yếu kém nhưng vai trò của khu vực FDI ngày càng quan trọng với hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, gần 50% tổng sản lượng công nghiệp.

Thứ ba là các ngành bán lẻ, siêu thị, chợ… Người dân bị giảm thu nhập và tâm lý sợ hãi trước dịch nên các gia đình chỉ mua những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu như thực phẩm, thuốc men, xà bông, giấy vệ sinh hay khẩu trang.

Thứ tư là ngành giao thông vận tải, nhất là hàng không và xe đò liên tỉnh.
Thứ năm là ngành thủy hải sản, bởi các nhà hàng đóng cửa và tiệc cưới, ma chay giảm ở mức thấp nhất.

Thứ sáu là ngành giáo dục các cấp, trung tâm đào tạo ngoại ngữ, các trường mầm non, dạy nghề, đại học…

Như vậy từ phân tích trên, nhóm các DNNN không phải là nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Trong danh sách doanh nghiệp do Ủy ban QLVNN tại doanh nghiệp quản lý, theo cá nhân tôi thì chỉ có Tổng công ty Hàng không Việt Nam và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam là bị tác động tương đối lớn, các doanh nghiệp còn lại có bị ảnh hưởng nhưng chưa phải đến lúc “cấp cứu”.

Các cụ đã nói không sai: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Nếu chúng ta tiếp tục ưu ái DNNN trong việc tiếp cận tín dụng so với các doanh nghiệp tư nhân sẽ dẫn tới tình trạng họ luôn có tâm lý ỷ lại vào bầu sữa người mẹ mang tên Nhà nước. Hơn nữa, cơ cấu nguồn vốn hiện nay của DNNN chủ yếu là vốn vay. Vốn chủ sở hữu của khu vực DNNN so với tổng nguồn vốn chỉ chiếm khoảng 23,2%, trong khi tỉ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 30,7% và khu vực doanh nghiệp FDI là gần 40%.

Năm 2017, khu vực DNNN có chỉ số nợ là 4,1; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 2,3 và khu vực doanh nghiệp FDI là 1,6. Hơn nữa việc sử dụng vốn của các DNNN ngày càng kém hiệu quả. DNNN từ mức 1,8 đồng vốn tạo ra 1 đồng doanh thu thuần năm 2011, đến năm 2017 phải cần tới 3,05 đồng vốn mới tạo được 1 đồng doanh thu thuần. Đến năm 2018 thì còn kém hơn, khi cần tới 3,065 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần (vốn thu hút vào sản xuất - kinh doanh đạt 9,5 triệu tỷ đồng, chiếm 28,8% tổng vốn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp, trong khi tổng doanh thu thuần đạt 3,1 triệu tỷ đồng, chiếm 15,1%).

Như vậy nếu coi các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh với nhau thì Nhà nước không nên quá ưu ái và nuông chiều vô điều kiện những đứa con của mình là DNNN. Nếu chúng ta mãi mãi để DNNN có ràng buộc ngân sách mềm (thuật ngữ của nhà kinh tế học Kornai Janos) thì mong muốn ngân sách của các DNNN này là vô tận và mãi không thể lớn và cạnh tranh được với các khu vực khác trong nước, chưa nói đến nước ngoài.

Ưu tiên hỗ trợ ai?

PV: - Trở lại với đề xuất của Ủy ban QLVNN tại doanh nghiệp, trong trường hợp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước không tiếp cận được vốn lãi suất 0% thì hỗ trợ tín dụng cho các đơn vị nhà nước này cần được xem xét như thế nào trong cân đối với các doanh nghiệp khác của nền kinh tế, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Chắc chắn là các DNNN không thể tiếp cận được gói tín dụng như mong muốn với lãi suất 0%. Việc hỗ trợ các DNNN là điều đáng làm, cũng như với các doanh nghiệp tư nhân khác, tuy nhiên Nhà nước và hệ thống ngân hàng phải tính toán làm sao để các DNNN không được ưu ái và lấn át các khu vực khác, nhất là khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

Các DNNN có mối quan hệ đã được tạo dựng với các ngân hàng thương mại nhà nước và chính quyền các cấp, chưa tính đến các DNNN thường có quy mô lớn  cũng tạo ra ưu thế để họ tìm kiếm các nguồn lực, nhất là vốn vay.

Theo cá nhân tôi, việc hỗ trợ tín dụng cho các DNNN phải được cân nhắc và tính toán sao cho không xảy ra tình trạng “rủi ro đạo đức” (moral hazard) hay “lựa chọn ngược” (adverse selection) khi một bên có nhiều lợi thế tiếp cận thông tin và chính sách hơn các nhóm còn lại.

Ở đây, như phân tích ở trên, DNNN rất có lợi thế so với các khu vực khác trong việc tiếp cận thông tin và chính sách về gói tín dụng 250.000 tỷ đồng. Nguồn lực có hạn, cho nên làm sao để số tiền này đến được tay những doanh nghiệp cần nhất và sử dụng hiệu quả nhất. Nếu không cẩn trọng thì đa số vốn trong gói tín dụng này lại rơi vào những DNNN kém hiệu quả nhất và nếu họ có hứa sử dụng vốn hiệu quả thì rủi ro đạo đức xảy ra là chuyện hiển nhiên trong các DNNN.

Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2019 thì tính đến ngày 31/12/2017, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước thu hút 17,5 triệu tỷ đồng vốn, chiếm 53% vốn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Tổng doanh thu thuần đạt 11,7 triệu tỷ đồng, chiếm 56,8% doanh thu thuần của toàn bộ khu vực doanh nghiệp.

Khu vực DNNN chủ yếu gồm các doanh nghiệp có quy mô lớn nên vốn thu hút vào sản xuất - kinh doanh đạt 9,5 triệu tỷ đồng, chiếm 28,8% tổng vốn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Tổng doanh thu thuần đạt 3,1 triệu tỷ đồng, chiếm 15,1%.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, thu hút đáng kể vốn cho sản xuất - kinh doanh với 6 triệu tỷ đồng, chiếm 18,1%. Tổng doanh thu thuần đạt 5,8 triệu tỷ đồng, chiếm 28,1%.

Như vậy, với giả định cơ cấu vốn đến thời điểm này không thay đổi nhiều, thì gói hỗ trợ 250.000 tỷ nên chia theo tỷ lệ: 5-3-2 tương ứng 50% cho khu vực ngoài nhà nước (nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khu vực này 70% các doanh nghiệp chưa tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng), 30% cho khu vực DNNN và 20% cho khu vực FDI.

Hơn nữa, Nhà nước phải kiểm soát cứng rắn các khoản vay của DNNN, điều tiết tiền lương của khu vực này, giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình các khoản mục đầu tư nhà nước và các giới hạn khác, trước hết là để bảo vệ khu vực quan trọng hàng đầu là khu vực tư nhân khỏi tác động hút nguồn lực của các DNNN. Đến lúc này chúng ta không thể cho các DNNN cơ hội tiếp cận đa số các nguồn vốn ưu đãi nếu nghiêm túc nghĩ về việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

De xuat tap doan, TCT vay lai suat 0%: Khong kha thi…
Nhà nước không nên quá ưu ái và nuông chiều vô điều kiện các DNNN

PV: - Theo ông, giải pháp hỗ trợ nền kinh tế thông qua tín dụng nên như thế nào? Nhà nước nên ưu tiên hỗ trợ nhóm doanh nghiệp nào để tác động lan tỏa trong nền kinh tế mạnh mẽ hơn?

PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Việc hỗ trợ nền kinh tế thông qua các gói tín dụng là điều mà bàn tay hữu hình cần hành động để hỗ trợ nền kinh tế, khi bàn tay vô hình vẫn còn đang “khủng hoảng niềm tin”, giống như người bệnh phải được can thiệp khẩn cấp khi bệnh nặng và có những triệu chứng xấu ngoài mong đợi. Nếu không có sự can thiệp kịp thời, nhanh chóng và hiệu quả của Chính phủ, không ít ngành kinh tế và khoảng 30-50% doanh nghiệp có thể đổ vỡ, yếu kém và phá sản. Điều này sẽ tác động tiêu cực và có thể gây ra rất nhiều hệ lụy nghiêm trọng về tăng trưởng, việc làm, thất nghiệp, lạm phát cũng như nhiều “chấn thương và địa chấn” xã hội khác.

Ngoài gói tín dụng 250.000 tỷ cho các doanh nghiệp có tác động về cung và phần nào đó về phía cầu, theo cá nhân tôi thì Chính phủ cũng nên có gói tín dụng kích cầu cho các thành phần kinh tế, nhất là các hộ gia đình ngoài gói 62.000 tỷ cho các đối tượng chính sách. Tầng lớp trung lưu bị ảnh hưởng rất lớn trong đại dịch Covid-19 này, hiện tầng lớp này cộng với tầng lớp giàu có chiếm khoảng 20% dân số nhưng khả năng chi tiêu của họ chiếm 80% chi tiêu của hộ gia đình. Vì vậy cũng cần có gói tín dụng kích cầu chi tiêu cho hai đối tượng này, nhất là khu vực trung lưu.

Có ý kiến cho rằng việc giảm lãi suất không có ý nghĩa nhiều nếu các doanh nghiệp khó tiếp cận với gói tín dụng này, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Vì vậy các tiêu chí đưa ra để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được cần công khai, minh bạch, dễ hiểu, dễ làm, đơn giản nhưng chặt chẽ để giảm chi phí giao dịch cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các chính sách của Chính phủ bao giờ cũng phải có mục tiêu và đối tượng cụ thể. Trong trường hợp gói 250.000 tỷ này, mục tiêu của Chính phủ là hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Việc ưu tiên nhóm doanh nghiệp nào là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết để vốn ưu đãi đến với đối tượng cần và bị thiệt hại nhất.

Vì vậy, việc có thông tin và chứng minh được mức độ thiệt hại và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp sẽ quyết định mức độ và khả năng vay được vốn trong gói tín dụng ưu đãi này.

Cũng cần lưu ý, đây không phải là gói kích cầu hoặc gói cứu trợ nền kinh tế như giai đoạn 2009, mà là gói tín dụng thông thường có ưu đãi trong một giai đoạn khó khăn của nền kinh tế và có điểm khác biệt là thủ tục sẽ cần nhanh gọn hơn, linh hoạt hơn, lãi suất ưu đãi hơn – tùy thuộc vào từng dự án, khách hàng vay vốn.

Theo quan điểm cá nhân tôi, Nhà nước nên ưu tiên hỗ trợ khu vực kinh tế ngoài nhà nước vì một số điều sau đây:

Thứ nhất, đây là nơi tạo ra trên 80% việc làm toàn xã hội.

Thứ hai, đây là nơi có 96% doanh nghiệp là nhỏ và rất nhỏ. Những doanh nghiệp này khó tiếp cận với tín dụng chính thức và dễ “tiêu” nhất trong các cuộc khủng hoảng.

Thứ ba, hiện khu vực này chiếm 53% số vốn của toàn bộ doanh nghiệp, doanh thu chiếm khoảng 57% và lợi nhuận chiếm 33,3%. Đây là khu vực rất tiềm năng và đây chính là cơ hội để Chính phủ quan tâm hơn tới một khu vực được cho là quan trọng đối với nền kinh tế.

Thứ tư, lợi nhuận của khu vực này sẽ ở lại đất nước, vì nếu khu vực này ngày càng phát triển và họ có cảm nhận và có niềm tin từ Chính phủ thì họ tiếp tục đầu tư và lấy lợi nhuận để đầu tư cho tương lai.

Thứ năm, từ trước tới nay chúng ta đã quá ưu ái các DNNN trong việc tiếp cận hai nguồn lực quan trọng nhất là vốn và đất đai. Tuy nhiên, tình trạng kém hiệu quả và thất thoát của khu vực kinh tế nhà nước là một tín hiệu để Chính phủ điều chỉnh chính sách thiên về khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

Thứ sáu, khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển thì mức độ lan tỏa của nó sẽ mạnh hơn nhiều so với các khu vực khác bởi tính sáng tạo, linh hoạt cao và tinh thần doanh nhân bất diệt của người Việt, đúng như các cụ nói: phi thương bất phú.

Khu vực DNNN bấp bênh và kém hiệu quả, khu vực FDI thì sớm muộn họ cũng mang lợi nhuận về đất nước họ, chỉ có khu vực tư nhân Việt Nam mới có sức đề kháng và phát triển mạnh mẽ, làm cho dân tộc Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu.

Thành Luân

Thứ Hai, 20/04/2020 07:16

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện