Ông Bùi Kiến Thành: Tăng vốn ngân hàng thương mại thế nào?

(Tài chính) - Đưa ra một quan điểm độc lập, những lời thật của ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế độc lập liệu có được lắng nghe?

PV: Trong năm vừa qua, một trong vấn đề nóng trong hoạt động tài chính ngân hàng tại Việt Nam là yêu cầu tăng vốn cho các ngân hàng thương mại mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Dù đã thống nhất về mặt chủ trương, tăng vốn là cần thiết nhưng vẫn còn vướng mắc trong việc tìm nguồn tăng vốn cho nhóm ngân hàng này. Ông nhìn nhận về diễn biến này và xin ông chia sẻ quan điểm của ông?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Đầu tiên, cần xác quyết, việc tăng vốn cho nhóm ngân hàng thương mại mà nhà nước vẫn đang nắm giữ cổ phần chi phối là không cần phải bàn cãi.

Theo tiêu chuẩn Basel II, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cần đạt mức tối thiểu 8% - giảm 1% về mặt số học so với của Basel I. Thế nhưng, việc các mức độ rủi ro sẽ kỹ càng và chi tiết hơn, trong đó, rủi ro vận hành được giới thiệu như một loại rủi ro mới cho các ngân hàng phải giữ vốn quy định. Rủi ro này bao gồm các thiệt hại do quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc bị thất bại, do con người hay hệ thống, hoặc từ các sự kiện bên ngoài. Các quy định mới về rủi ro tín dụng cũng bao gồm cả đối phó chi tiết với chứng khoán và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Như vậy, muốn tăng hạn mức cho vay, ngân hàng thương mại phải được tăng vốn tự có.

Ong Bui Kien Thanh: Tang von ngan hang thuong mai the nao?
Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Ở đây, còn hai điểm đáng chú ý khác. Thứ nhất, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính tới cuối tháng 8/2019, nhóm 4 ngân hàng thương mại (NHTM) mà nhà nước nắm cổ phần chi phối là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV, Ngân hàng Công thương Việt Nam VietinBank và Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Agribank (nhóm BIG 4) có tổng tài sản đạt 5.081 nghìn tỷ đồng, tăng 5,29% so với cuối năm 2018, chiếm 43,01% toàn hệ thống; cho vay thị trường 1 đạt 3.652 nghìn tỷ đồng, chiếm 47,9% toàn hệ thống. Điều này đồng nghĩa nếu nhóm BIG 4 tăng được hạn mức cho vay, khả năng đáp ứng vốn cho toàn nền kinh tế cúng sẽ tăng trưởng.

Câu chuyện còn liên quan tới mức lãi suất cho vay. Rất đơn giản, khi phải đối diện với những hạn chế trong lượng tín dụng, đương nhiên nền kinh tế phải chịu lãi suất cao hơn. Tuy nhiên, những hạn chế này cũng có hướng giải quyết như chúng ta sẽ nói sau.

Thứ hai, xét về quy mô, dù được mệnh danh là nhóm BIG 4 trên thị trường tín dụng Việt Nam, các ngân hàng Vietcombank, BIDV, Vietinbank và Agribank chưa từng lọt top 10 những ngân hàng lớn nhất khu vực Đông Nam Á, theo các bảng xếp hạng. Buộc phải đối diện với câu hỏi, chúng ta có muốn ngân hàng thương mại Việt Nam lớn mạnh hơn và có thể vươn tầm khu vực và thế giới hay không?

Tréo ngoe ở điểm, trong khi nhu cầu tăng vốn được cho là khá cấp thiết, nhóm các ngân hàng thương mại này lại không được giữ lại lợi nhuận để bổ sung nguồn vốn. Hàng năm, lợi nhuận từ nhóm ngân hàng này được đưa về ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết nhu cầu chi tiêu, trong đó, một phần rất lớn là chi thường xuyên.

Bộ Tài chính cần phải suy nghĩ kỹ về thông lệ này. Nếu không tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển, đó là tự mình làm suy yếu con gà đẻ trứng vàng của mình.

PV: Quả thật, đang có một vòng tròn tương đối luẩn quẩn. Một mặt, khoản lãi của các ngân hàng thương mại do nhà nước nắm cổ phần chi phối vẫn được hạch toán trong dự toán thu ngân sách, mặt khác, khi cân đối ngân sách vẫn đang là một bài toán khó, việc sử dụng ngân sách để tăng vốn cho nhóm ngân hàng thương mại này vẫn chưa thể khả thi. Thưa ông, vậy chúng ta nên làm thế nào?

Ông Bùi Kiến Thành: - Vì có quy định về tỷ lệ an toàn vốn (Capital-to-Asset Ratio CAR), nghĩa là tỷ lệ vốn tự có trên tổng tín dụng, nên ngân hàng không thể phát triển tín dụng nếu không tăng vốn Điều Lệ để đáp ứng được tỷ lệ quy định. Do vậy việc tăng vốn Điều Lệ là cần thiết, nếu không thì ngân hàng sẽ phải dậm chân tại chỗ. 

Một khía cạnh khác là thanh khoản của ngân hàng. Ở Việt Nam thanh khoản ngân hàng đến từ huy động vốn trong trong xã hội, với lãi suất huy động cao, dẫn đến khan hiếm tín dụng và lãi suất cho vay cao. Ở các nước phát triển môt phần lớn thanh khoản của ngân hàng thương mai (NHTM) được cung cấp từ Ngân Hàng Trung Ương (NHTW) qua cho vay trực tiếp hoặc qua hệ thống “Thị Trường Mở” (Open Market Operations), qua đấy, NHTW chiết khấu các “giấy có giá trị”, các tín dụng cho doanh nghiệp, với lãi suất từ 0% đến 2-3%, tùy thời kỳ, do đó NHTM không phải lệ thuộc vào việc huy động vốn trong xã hội với lãi suất cao. 

Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền trong vấn đề tiền tệ, đó là nhiệm vụ của NHTW. Như tôi đã nói rất nhiều lần, NHTW có nhiệm vụ đảm bảo lưu lượng tiền tệ cần thiết, không thừa, không thiếu để nền kinh tế vận hành và phát triển ổn định, bền vững. Tại sao chúng ta không sử dụng quyền của mình, để các NHTM vì thiếu thanh khoản, lãi suất huy động cao, mà không thể phát triển được thêm và cũng không đáp ứng được nhu cầu tín dụng của nền kinh tế?

Tất nhiên, xét vè mặt lý thuyết, ngân hàng thương mại có thể tự huy động nguồn vốn trong nước bằng cách phát hành cổ phần hoặc trái phiếu. Vấn đề còn lại là, người dân có mua không? Với lãi suất là bao nhiêu? Cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế cần phát triển và cạnh tranh trên mọi châu lục, từ thị trường trong nước đến xuất khẩu? trong khi các đối thủ từ nước ngoài tiếp cận được tín dụng với lãi suất 1-2% như ở Nhật và Hàn Quốc?

Về trái phiếu ngân hàng thương mại, theo báo cáo của Công ty chứng khoán SSI, 40% trái phiếu ngân hàng phát hành trong 8 tháng đầu năm 2019 được công ty chứng khoán mua vào nhưng phần lớn là mua hộ, "bình phong" cho chính các nhà băng. Việc các ngân hàng thương mại sở hữu trái phiếu của nhau không làm tăng thêm nguồn vốn luân chuyển trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Trong khi đó, để tạo thêm nhiều nguồn lực từ phát hành cổ phần ra công chúng trong nước, nhà đầu tư phải tính toán được lợi ích trong ngắn hạn và dài hạn thế nào? Nếu các ngân hàng quốc doanh (nhà nước nắm đa số cổ phần) ăn nên làm ra nhưng lại không thể phát triển thêm do phải nộp lợi nhuận về ngân sách nhà nước, liệu có phải là kế sách lâu dài? Người trong nước không mấy mặn mà tham gia vốn Điều Lệ của những ngân hàng này, nhưng các tập đoàn tài chính nước ngoài lại nhân cơ hội thu gom cổ phần của các ngân hàng Việt Nam, như trường hợp BIDV vừa rồi. Nếu nhà nước vẫn muốn giữ nguyên tỷ lệ cổ phần trong ngân hàng, đồng nghĩa, phải tiếp tục bơm tiền vào vốn điều lệ của các ngân hàng này.

PV: Vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan, mong muốn Ngân hàng Trung ương sử dụng hết quyền năng của nó, điều ông từng nhiều lần đề cập chưa thể nhận được sự đồng thuận. Trong bối cảnh này, có nhiều quan điểm cho rằng, để tăng vốn, nên nới room cho nhà đầu tư ngoại tại nhóm BIG 4 nói trên. Ông có chia sẻ với gợi ý nói trên hay không, thưa ông? Xin ông phân tích cụ thể.

Ông Bùi Kiến Thành: - Chúng ta phải luôn tâm niệm rằng, điều mình muốn và điều mà các nhà đầu tư nước ngoài muốn thường không tương đồng với nhau. Trong những tính toán nới room cho nhà đầu tư ngoại, viễn cảnh được đặt ra không chỉ là tăng vốn cho chính các ngân hàng thương mại mà còn là nâng cao năng lực quản trị cho các tổ chức tín dụng nhờ sự giúp đỡ về kiến thức, kỹ thuật và kinh nghiệm của họ. Có vẻ như, chúng ta sẽ lợi cả đôi đường.

Tuy nhiên, nhìn vào động cơ của các nhà đầu tư ngoại, có lẽ, khó có thể lạc quan như vậy. Phần cổ tức được chia hàng năm có đủ để khiến các tài phiệt tài chính hài lòng khi tính trong dài hạn, chủ thể kinh doanh khó mở rộng quy mô để duy trì và tăng trưởng lợi nhuận. Có thể, đó là lý do khiến yêu cầu nới room luôn được các nhà đầu tư ngoại đặt ra trong các cuộc gặp chính thức và có lẽ cả không chính thức với các nhà quản lý trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Mục tiêu lớn nhất của các nhà đầu tư này là tham gia sâu hơn vào thị trường tài chính Việt Nam.

Cùng từ góc nhìn này, có thể đặt câu hỏi, tại sao chúng ta lại tính toán bán đi cổ phần của những thực thể kinh doanh vốn luôn mang lại lợi nhuận cao. Tại sao phải tính toán chia lợi nhuận với các nhà đầu tư nước ngoài khi chúng ta có đủ năng lực để đầu tư thêm cho các tổ chức tín dụng này?

Vả lại, dù sự tham gia của khối ngoại hay không, hệ thống tổ chức tín dụng trong nước vẫn phải nâng cao kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ quản trị cũng như hiện đại hóa trong vấn đề kỹ thuật… Đó là điều không hề khó khăn. Nếu không gửi người ra nước ngoài tu nghiệp, có thể thuê chuyên gia để dạy cho đội ngũ nhân viên của mình. Thậm chí, có thể thuê nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài tham gia vào bộ máy quản trị của các ngân hàng thương mại, như rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài lĩnh vực tài chính – tiền tệ đã làm. Không cần phải lựa chọn cách thức khiến chúng ta sẽ mất dần quyền chủ động trong điều hành nhóm ngân hàng thương mại lớn nhất trên thị trường hiện nay.

PV: Thưa ông, dường như đang có một sự hiểu nhầm về mức độ ‘thị trường’ của lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đề xuất để nhà đầu tư ngoại tham gia nhiều hơn vào các ngân hàng thương mại có thể xuất phát từ quan điểm tài chính – ngân hàng cũng cần thị trường hóa như hầu hết các lĩnh vực kinh doanh khác. Thưa ông, quan điểm này cần được cân nhắc như thế nào?

Ông Bùi Kiến Thành: Phải hết sức cẩn trọng. Lĩnh vực tài chính – tiền tệ là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, có ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả các hoạt động kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế. Tôi xin nhắc lại, các nhà quản lý đừng tạo ra hoàn cảnh khiến các ngân hàng phải bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài để tăng vốn Điều Lệ, tự đánh mất quyền chủ động trong điều hành 4 ngân hàng thương mại hiện đang lớn nhất trên thị trường tín dụng Việt Nam.

Vấn đề tăng vốn cho các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm cổ phần chi phối đã không được đề cập đến trong buổi họp báo Thông tin Kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2019, định hướng nhiệm vụ năm 2020 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức ngày 31/12/2019.

Trong hoạt động có ý nghĩa tổng kết năm 2019 này, đại diện Ngân hàng Nhà nước đã dành nhiều thời gian điểm lại các thành tích trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng như: mặt bằng lãi suất thị trường có xu hướng giảm, ãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm 0,2-0,5%/năm và lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên giảm 0,5%/năm;

Cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát ở mức hợp lý. Ước đến 31/12/2019, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 11% so với cuối năm 2018, chiếm khoảng 25% tổng dư nợ nền kinh tế; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khoảng 16%, tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng khoảng 15%;

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng tính đến tháng 12/2019 ở mức 1,89% (hoàn thành mục tiêu dưới 2%).

Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng  phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu bình quân dưới 4%; ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối.

Hoàng Hạnh (thực hiện)

Thứ Tư, 01/01/2020 14:15

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện