Siết ngân hàng mua TPDN: Không thể chủ quan nữa

(Tài chính) - Trước những rủi ro trong hoạt động mua bán trái phiếu doanh nghiệp của các NHTM, chuyên gia cho rằng việc siết chặt quy định là cần thiết.  

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến dự thảo thông tư quy định việc mua, bán trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) của các tổ chức tín dụng (TCTD) với quy định chặt chẽ hơn.

Trong dự thảo, NHNN đưa ra quy định ngân hàng thương mại (NHTM) chỉ được mua trái phiếu doanh nghiệp khi có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại năm trước liền kề; trừ trường hợp mua theo phương án cơ cấu lại được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.

NHTM không được mua trái phiếu (bao gồm mua từ phát hành lần đầu và mua lại từ các tổ chức, cá nhân khác) của doanh nghiệp phát hành có phát sinh nợ xấu tại tổ chức tín dụng mua và tại tổ chức tín dụng khác trong vòng 12 tháng gần nhất tính đến thời điểm quyết định mua.

Dự thảo thông tư cũng quy định NHTM không được mua TPDN phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ (đảo nợ) của chính doanh nghiệp phát hành.

Hoan nghênh dự thảo thông tư của NHNN, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính) cho rằng, những quy định mà dự thảo thông tư đưa ra là đòi hỏi bắt buộc mà tất cả các NHTM phải chấp hành và ông tin rằng, nếu dự thảo thông tư được thông qua, doanh nghiệp cũng như NHTM không thể chủ quan được nữa.

Theo vị chuyên gia, qua dự thảo thông tư cho thấy nỗi lo lắng của NHNN về tình trạng nợ xấu, về sự an toàn của hệ thống ngân hàng, do đó cần phải siết chặt hoạt động mua bán TPDN của NHTM với những quy định chặt chẽ hơn.

Siet ngan hang mua TPDN: Khong the chu quan nua
Hoạt động mua bán trái phiếu doanh nghiệp của ngân hàng thương mại sẽ được siết chặt hơn

Doanh nghiệp phát hành trái phiếu chính là đi vay và trái phiếu chẳng qua là một tờ giấy chứng nhận nợ, còn người mua trái phiếu là người cho vay. Nhưng cho vay trong trường hợp này là hình thức không có thế chấp, không cần bảo lãnh, chỉ dựa vào sự tín nhiệm của người cho vay đối với doanh nghiệp, dựa vào niềm tin về khả năng đầu tư có lãi và uy tín của doanh nghiệp.

"Đây là việc không chỉ ngân hàng mà cả các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế quốc dân phải rất cẩn trọng, xem xét tình hình hoạt động của các doanh nghiệp phát hành để có quyết định đầu tư, mua trái phiếu hay không.

Nhưng lâu nay, NHTM nói riêng và các trái chủ - người mua TPDN nói chung, chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này. Đó là việc doanh nghiệp cần vốn để tái cơ cấu, để sản xuất kinh doanh thì cứ vay nhưng khả năng trả được nợ hay không thì chưa ai nói đến.

Thay vì cho doanh nghiệp vay tín dụng, có thế chấp, có bảo lãnh, theo dõi quản lý chặt chẽ, ngân hàng cho doanh nghiệp vay thông qua việc mua trái phiếu doanh nghiệp - một hình  thức cho vay đơn giản hơn. Có thể hiểu, doanh nghiệp được giao tiền kinh doanh mà không quản lý gì, chỉ cần tín nhiệm doanh nghiệp, ôm hy vọng rằng doanh nghiệp có thể trả được nợ.

Rõ ràng, việc cho vay thông qua mua trái phiếu doanh nghiệp dễ dãi hơn và cũng rủi ro hơn. Nguy cơ nợ xấu, mất vốn lớn hơn so với cho vay tín dụng", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh phân tích. 

Ông dẫn ví dụ, thời gian qua đã phát sinh việc ngân hàng mua TPDN tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cụ thể, trong điều kiện doanh nghiệp phát hành trái phiếu tiếp tục gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và không có khả năng trả nợ gốc và lãi trái phiếu đến hạn, dẫn đến việc phát hành thêm trái phiếu. Ngân hàng lại mua trái phiếu ấy, doanh nghiệp dùng tiền bán trái phiếu để trả  nợ cho ngân hàng, và đây là một hình thức đảo nợ.

"Cứ như thế, ngân hàng bị gắn chặt với quyền lợi của doanh nghiệp, trót đâm lao phải theo lao", ông nhấn mạnh.

Bởi vậy, vị chuyên gia một lần nữa nhấn mạnh, siết chặt việc mua bán TPDN là một đòi hỏi bắt buộc, không chỉ là đối với ngân hàng, mà với  tất cả các chủ thể trong nền kinh tế cũng phải cẩn trọng.

"Trước nay chúng ta chưa có quy định chặt chẽ về việc phát hành trái phiếu thì phải làm gì, như thế nào. Thậm chí, đến bây giờ, doanh nghiệp vẫn được phép phát hành trái phiếu với mức dư nợ cao gấp 5 lần vốn chủ sở hữu. Như vậy là quá rộng rãi, kèm theo đó là mức độ, rủi ro, nguy hiểm cũng cao hơn", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh chỉ rõ, đồng thời lưu ý rằng, dự thảo thông tư đưa ra những quy định trên là hợp lý và không hề làm khó doanh nghiệp.

"Đã là cơ quan quản lý nhà nước thì phải đảm bảo sự an toàn cho hệ thống ngân hàng cũng như cho cả nền kinh tế quốc dân. Với những quy định này, doanh nghiệp, NHTM không thể làm liều được nữa. Nếu đã quy định rồi mà vẫn cố tình làm sai thì phải xử lý", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh nói.

Theo số liệu từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), tính riêng trong tháng 9/2020, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ chỉ đạt 10.905 tỷ đồng, giảm 75% so với tháng 8/2020 với 27 đợt phát hành của 14 doanh nghiệp. Kỳ hạn phát hành từ 2 năm đến 15 năm với kỳ hạn phát hành bình quân là 5,8 năm. Trái phiếu kỳ hạn 3 năm có giá trị phát hành lớn nhất, đạt 7.425 tỉ đồng, chiếm 68,1% tổng giá trị phát hành.

Trong đó, tổng giá trị phát hành của các tổ chức tín dụng vẫn đứng đầu, đạt 8.490 tỷ đồng, chiếm 77,85% tổng giá trị phát hành trái phiếu, song con số này đã giảm tới 42% so với tháng 8; đứng thứ hai là các công ty bất động sản phát hành trái phiếu với tổng giá trị phát hành đạt mức 1.929,5 tỷ đồng, chiếm 17,69%.

Như vậy, lũy kế 9 tháng đầu năm 2020, thị trường trái phiếu Việt Nam có 1.089 đợt phát hành của 175 doanh nghiệp với giá trị phát hành đạt 290.308 tỷ đồng với kỳ hạn phát hành bình quân là 4,0 năm. Trong đó, các tổ chức tín dụng đứng đầu nhóm phát hành với 78.486 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2020.

Sự sụt giảm mạnh của giá trị trái phiếu doanh nghiệp trong tháng 9 là điều đã được dự báo từ trước khi các quy định mới về siết chặt hoạt động phát hành trái phiếu được quy định tại Nghị định số 81/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/9/2020.

Thành Luân

Thứ Ba, 27/10/2020 08:09

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện