Tăng trưởng dựa vào FDI: Động lực nào để thay đổi?

(Tài chính) - Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho rằng không nên vui mừng với cán cân thương mại vì Việt Nam vẫn xuất khẩu hộ.   

Năm 2019, nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều con số ấn tượng, trong đó tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2019 vượt  mốc 500 tỷ USD, cán cân thương mại hàng hóa năm 2019 ước tính xuất siêu 9,9 tỷ USD, mức cao nhất trong 4 năm liên tiếp xuất siêu.

Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế - TS Bùi Trinh, năm 2019 vẫn chưa cải thiện được một đặc điểm và cũng là điểm yếu vốn tồn tại nhiều năm qua của Việt Nam, đó là sự phụ thuộc của xuất khẩu Việt Nam vào khu vực FDI.

Năm 2019, dù Tổng cục Thống kê ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế trong nước trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao hơn rất nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhưng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tới gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Cụ thể, khu vực kinh tế trong nước đạt 82,10 tỷ USD, tăng 17,7%, chiếm 31,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 181,35 tỷ USD, tăng 4,2%, chiếm chiếm 68,8% (tỷ trọng giảm 2,5 điểm phần trăm so với năm trước).

"Vui mừng cán cân thương mại là một sự vui mừng... vô duyên vì Việt Nam toàn xuất khẩu hộ. Tại sao lại vui mừng với thành tích của người khác? Những thành tích xuất khẩu của FDI đều được tính vào GDP nhưng hàm lượng giá trị gia tăng trong giá trị xuất khẩu mà phía Việt Nam được hưởng cực kỳ thấp, có chăng chỉ là chút công lao động mà công lao động của người Việt cực kỳ thấp. Một quản đốc người nước ngoài bằng lương của 20 lao động Việt.

Về bản chất, xuất khẩu của khu vực này là xuất khẩu của nước chủ sở hữu các doanh nghiệp FDI, họ mượn Việt Nam để xuất khẩu sang những nước thứ ba khác hoặc sang chính nước chủ sở hữu do Việt Nam cho họ sự ưu đãi đặc biệt về đất đai, thuế, chính sách... Hoặc nếu hàng hóa do khu vực FDI sản xuất ra được bán tại Việt Nam thì thực chất là họ xuất khẩu sang Việt Nam, mà lợi nhuận từ phương thức xuất khẩu này còn cao hơn so với phương thức họ sản xuất ở chính quốc rồi xuất khẩu một cách truyền thống qua Việt Nam, do tận dụng được ưu đãi và giá nhân công rẻ", TS Bùi Trinh chỉ rõ.

Tang truong dua vao FDI: Dong luc nao de thay doi?
Tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc vào FDI

Đáng lưu ý, theo TS Bùi Trinh, dù là doanh nghiệp trong nước hay FDI đều phụ thuộc vào nhập khẩu vì bởi Việt Nam hầu như không có sản phẩm phụ trợ nào.

"Đứng về mặt sản xuất, doanh nghiệp trong nước giống hệt FDI đều làm gia công và hai thành phần kinh tế này chỉ khác nhau điều cơ bản là FDI chuyển tiền về nước họ.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy luồng tiền ra thuần năm 2017 khoảng 10,6 tỷ USD, chiếm khoảng 5% GDP, tăng 28% so với năm 2016 theo giá hiện hành và tăng gần 24% so với năm 2016 nếu loại trừ yếu tố giá. Tốc độ tăng của luồng tiền ra cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP khá nhiều (hơn ba lần).

Năm 2018, theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, chi trả sở hữu thuần trên 17 tỷ USD. Phần nhiều trong khoản này là khu vực doanh nghiệp FDI chuyển tiền về nước sau khi được hưởng mọi ưu đãi của phía Việt Nam.

Ước tính năm 2019 chi trả sở hữu ra nước ngoài khoảng trên 18 tỷ USD, trong đó khu vực FDI chiếm tỷ trọng không nhỏ. Trớ trêu là tăng trưởng GDP đang phụ thuộc vào khu vực FDI. Điều này cho thấy một nghịch lý, phải chăng càng tăng trưởng GDP càng khiến nguồn lực của nền kinh tế bị bào mòn?

Theo điều tra doanh nghiệp, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực FDI trong GDP vẫn thấp, khoảng 20%.

Nếu tính đúng, bài bản thì  tăng trưởng GDP của Việt Nam còn cao hơn con số 7,02% (khoảng 7,1-7,15%). Thế nhưng, tốc độ tăng trưởng GDP cao không hoàn toàn là tín hiệu vui mừng vì luồng tiền ra nhiều hơn. Bởi vậy, Việt Nam không nên sa đà vào tăng trưởng GDP", TS Bùi Trinh phân tích. 

Theo vị chuyên gia, tăng trưởng ở Việt Nam về bản chất là dựa vào nợ. Nợ của các doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung là một con số khổng lồ.

Theo Sách trắng công bố bởi Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của cả nền kinh tế tăng từ mức 2,1 lần bình quân giai đoạn 2011-2016 lên 2,5 lần năm 2017, trong đó doanh nghiệp nhà nước tăng từ 3,02 lần bình quân giai đoạn 2011-2016 lên 4,24 lần năm 2017.

Năm 2019, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 50 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, trong đó xác định: Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu.

TS Bùi Trinh đánh giá, đây là một tín hiệu vui và lưu ý để nghị quyết đi vào cuộc sống thì phải được thể hiện bằng luật.

Trước mắt, trong năm 2020, vị chuyên gia nhận định sẽ khó có chuyển biến gì đáng kể, đặc biệt cái lo nhất của năm nay là lo về nợ nần, hạ mức tín nhiệm và lạm phát.

Theo Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2019 do Bộ KH-ĐT công bố, đến năm 2017 nợ phải trả của các loại hình doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là 23,6 triệu tỷ đồng. Trong khi đó theo số liệu của TCTK thì GDP theo giá hiện hành năm 2017 là 5 triệu tỷ đồng. Như vậy nợ phải trả so với GDP là 472%.

Đáng chú ý, nợ phải trả của khu vực doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối) so với GDP là 154% (riêng doanh nghiệp nhà nước có 100% vốn nhà nước tỷ lệ này là 75% GDP).

Theo các báo cáo mới nhất của Chính phủ, dự kiến đến cuối năm 2019, nợ công ở mức 56,1% GDP (so với mức 58,4% GDP năm 2018), nợ Chính phủ ở mức 49,2% GDP (năm 2018 là 50% GDP).

Cùng với đó là nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ từ ngân sách nhà nước ước khoảng 19,5-20,5%. Như vậy, phần lớn số nợ của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước  khoảng trên 20% không được Chính phủ bảo lãnh phải tự trả nợ (những khoản này không tính vào nợ công).

"Không chỉ nợ công mà nợ của nền kinh tế hiện nay cũng rất nguy hiểm. Tình hình này nếu không được cải thiện, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và mức tín nhiệm quốc gia nếu các khoản nợ nước ngoài đến hạn không được thanh toán, và xa hơn nữa có thể vỡ nợ", vị chuyên gia cảnh báo.  

Thành Luân

Thứ Bảy, 25/01/2020 18:55

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện