Cân nhắc xuất khẩu gạo: Phải nghĩ đến nông dân!

(Thị trường) - 20 năm qua, dù chi phí sản xuất của người trồng lúa tăng lên gấp nhiều lần theo thời gian, thì giá gạo ở ĐBSCL vẫn thấp bền vững...

Câu chuyện dừng hay xuất khẩu gạo đã gây lo lắng trong cộng đồng các doanh nghiệp khi Bộ Công thương đề xuất tạm dừng xuất khẩu gạo đến tháng 5/2020. Sau khi Văn phòng Chính phủ ngày 24/3 có văn bản thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ đồng ý tạm dừng xuất khẩu gạo thì Bộ Công thương lại có văn bản gửi Thủ tướng đề nghị tiếp tục cho xuất khẩu gạo trở lại.

Trong báo cáo gửi Chính phủ ngày 28/3 vừa qua, Bộ Công thương đề xuất tiếp tục xuất khẩu gạo trở lại nhưng kiểm soát chặt số lượng theo từng tháng. Kiến nghị này được đưa ra sau khi Bộ Công thương làm việc, khớp lại số liệu với các doanh nghiệp xuất khẩu, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) và các bộ, ngành liên quan như Bộ NN-PTNT, Tổng cục Hải quan.

Khi câu chuyện vẫn đang chờ quyết định cuối cùng thì TS Lê Văn Bảnh, nguyên Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thuỷ sản và nghề muối (nay là Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản), nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL chia sẻ quan điểm về vấn đề an ninh lương thực và kiến nghị phải có chính sách khuyến khích, đãi ngộ người nông dân.

Can nhac xuat khau gao: Phai nghi den nong dan!
TS Lê Văn Bảnh

20 năm giá gạo thấp bền vững...

PV: - Ông bình luận thế nào về những diễn biến trên? Tại sao lại xảy ra chuyện Bộ Công thương đưa ra quan điểm trái ngược chỉ trong một thời gian ngắn như vậy? Phải nhìn nhận về công tác tham mưu, dự báo của ngành Công thương như thế nào?

TS Lê Văn Bảnh: - Những số liệu liên quan đến tình hình sản xuất, kinh doanh lúa gạo như: một năm trồng bao nhiêu vụ, một vụ (kéo dài 3-4 tháng) trồng được bao nhiêu diện tích lúa, năng suất bao nhiêu, sản lượng thế nào, cân đối lượng gạo người dân ăn, dự trữ và xuất khẩu... thì Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), Hiệp hội Lương thực, Bộ Công thương... đều nắm rất rõ và đều có trong tổng kết của ngành nông nghiệp.

Đơn cử như vụ đông xuân năm nay, địa phương, ngành nông nghiệp đều khẳng định, dù ĐBSCL trải qua đợt hạn mặn lịch sử nhưng nhờ chuẩn bị từ trước nên thiệt hại ít, vụ lúa đông xuân được mùa. Chưa kể, chúng ta vẫn hay nói “chính phủ điện tử”, mọi thông tin, con số các cơ quan không thể không biết.

Khi tôi làm Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thuỷ sản và nghề muối, lãnh đạo Bộ NN-PTNT, Bộ Công thương hay họp thường kỳ về an ninh lương thực, thị trường... và có vấn đề vướng mắc gì hai bên xử lý ngay. Ví dụ, có tin đồn gì về lúa gạo, lập tức hai bộ họp, cử đoàn công tác cấp tốc xuống địa phương, doanh nghiệp kiểm tra, xem tồn kho trong doanh nghiệp, trong dân như thế nào, sản xuất mùa vụ này ra sao... Mọi thứ làm “rụp rụp” liền mà sao lần này lại vội vàng hậu đậu như vậy.

Tôi rất ngạc nhiên khi Bộ Công thương đột ngột đưa ra đề xuất tạm ngừng xuất khẩu gạo để rồi ngay sau đó lại đề nghị tiếp tục cho xuất khẩu. Cách tham mưu kiểu “sáng nắng chiều mưa”, cảm tính như vậy là thiếu trách nhiệm với người nông dân.

Có một thực tế đáng buồn là 20 năm qua, dù chi phí sản xuất của người trồng lúa tăng lên gấp nhiều lần theo thời gian, thì giá gạo ở ĐBSCL vẫn thấp bền vững, chỉ khoảng 4.000-5.000 đồng/kg, giờ lâu lâu mới xuất khẩu được 5.500 đồng/kg, người nông dân chưa kịp phấn khởi thì có đề xuất tạm ngưng xuất khẩu.

Thực ra nông dân Việt rất dễ tính. Họ chỉ cần làm ăn đủ sống, nếu có thu nhập cao thì càng tốt. Nếu bảo tạm ngưng xuất khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương thực thì người nông dân cũng chấp nhận. Chỉ có điều thời điểm này đang là cơ hội để người nông dân có thể khấm khá lên chút đỉnh, đột nhiên cơ quan tham mưu đưa ra đề xuất tạm ngưng xuất khẩu khi chưa làm rõ tình hình sản xuất, dự trữ ra sao thì phải xem lại trách nhiệm của chính cơ quan tham mưu này.

Ở tầm quản lý vĩ mô, Bộ phải rất thận trọng và có trách nhiệm với những đề xuất tham vấn của mình vì đó là cơ hội để người nông dân có thể tăng thu nhập, nâng cao đời sống.

PV: - Thưa ông, lo ngại về vấn đề an ninh lương thực trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 và hạn hán ở ĐBSCL là có cơ sở, nhưng nên hiểu an ninh lương thực như thế nào cho đúng? Nếu đặt hết gánh nặng an ninh lương thực lên người trồng lúa thì có hợp lý không, đặc biệt thời điểm này lúa gạo Việt Nam đang có cơ hội xuất khẩu với giá cao do nhu cầu từ các thị trường đang tăng lên? Làm thế nào để hài hòa giữa an ninh lương thực và mục tiêu xuất khẩu gạo trong thời điểm này? Xin ông phân tích cụ thể.

TS Lê Văn Bảnh: - Trước tiên, phải hiểu đặc điểm sản xuất lúa ở ĐBSCL: ngoài những vùng bị mặn không thể trồng lúa được thì hầu như lúc nào trên cánh đồng cũng có lúa và thường không quá 100 ngày đã cho thu hoạch. Cho nên, không cần quá lo lắng về an ninh lương thực.

Hiện nay chúng ta có Tổng cục Dự trữ Nhà nước hàng năm mua lương thực, chủ yếu là gạo dự trữ theo kế hoạch được giao để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách, phòng khi thiên tai, địch họa...

An ninh lương thực không phải chỉ là an ninh lúa gạo. Nghị quyết 63/NQ-CP về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia nêu rõ an ninh lương thực bao gồm lương thực và thực phẩm. Mỗi năm, trong báo cáo định kỳ của Bộ NN-PTNT về an ninh lương thực bao giờ cũng nêu rõ bao nhiêu là gạo, bao nhiêu là các loại lương thực quy gạo (như ngô, sắn)...

Xã hội càng phát triển, người tiêu dùng gạo càng ít đi, người ta ăn rau, trái cây nhiều hơn, thịt cá nhiều hơn. Các mặt hàng này phải được tính vào an ninh lương thực mới đầy đủ, giảm gánh nặng đè lên vai nông dân trồng lúa.

Bởi vậy không thể đặt hết gánh nặng an ninh lương thực lên vai người trồng lúa. Chưa kể, không nên dễ dãi sử dụng lý do đảm bảo an ninh lương thực, trừ trường hợp thật cần thiết, bởi như thế dễ xuất hiện các nhóm đầu cơ và tạo khan hiếm giả. 

Tôi có một băn khoăn mà bao năm nay chưa trả lời được, đó là người nông dân là lực lượng chính bảo vệ an ninh lương thực quốc gia, họ là chiến sĩ trên mặt trận an ninh lương thực, nhưng chúng ta lại chưa có chính sách khuyến khích, đãi ngộ cho họ. Trách nhiệm phải đi cùng với quyền lợi. Cần có chính sách khuyến khích người trồng lúa.

Ở Nhật, một kg gạo được bán với giá 5-6 USD nhưng họ hạn chế nhập khẩu. Lý do người Nhật đưa ra là tuy gạo giá cao nhưng họ có thể chủ động được, còn nếu nhập khẩu thì đến lúc đối tác không bán, họ biết làm sao? Đó chính là an ninh lương thực, bảo vệ sản xuất trong nước, bảo vệ người nông dân Nhật Bản.

Chính sách khuyến khích nông dân sẽ liên hoàn với lợi nhuận. Theo Nghị quyết về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, Nhà nước đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất, trên lý thuyết là không nhỏ với một vụ mùa 3 tháng. Tuy nhiên, trên thực tế thì lợi nhuận không nhiều, vì nông dân sản xuất nhỏ.

Ví dụ, một hộ nông dân có 1ha đất trồng lúa, một năm làm 2 vụ, thu hoạch được khoảng 12 tấn. Nếu cho là mức lãi lên đến 50% thì sẽ lãi được 6 tấn lúa. Lấy giá thị trường khoảng 6.000 đồng/kg lúa thì sẽ thu lãi được 36 triệu đồng, bình quân mỗi tháng chỉ được 3 triệu đồng. Với mức thu nhập này thì một gia đình bình thường với hai vợ chồng và hai đứa con không thể sống tốt được với chi phí sinh hoạt hàng ngày, chưa kể học hành, ốm đau…

Vậy nên, quan trọng là phải có chính sách khuyến khích người nông dân - lực lượng chính bảo vệ an ninh lương thực quốc gia, từ đó mới góp phần nâng cao lợi nhuận, nâng cao đời sống người dân.

Can nhac xuat khau gao: Phai nghi den nong dan!
Cần sớm cho phép xuất khẩu gạo trở lại để tránh hụt mất thời điểm vàng xuất khẩu gạo giá cao

Những bài học đắt giá

PV: Từ thực tế tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo, các tỉnh ĐBSCL, Hiệp hội Lương thực Việt Nam, các chuyên gia nông nghiệp đều khẳng định Việt Nam không thiếu gạo và kiến nghị tiếp tục cho xuất khẩu. Bản thân Bộ Công thương, sau khi rà soát cũng đưa ra kiến nghị tương tự.

Theo ông, chúng ta cần có câu trả lời trong khoảng thời gian bao lâu, để tránh hụt mất thời điểm vàng xuất gạo giá cao? Ngược lại, nếu kéo dài thời hạn tạm ngưng xuất khẩu gạo, ông hình dung nó sẽ ảnh hưởng thế nào đến các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như người nông dân?

TS Lê Văn Bảnh: - Theo phản ánh của bà con nông dân, mấy ngày qua có thông tin chưa rõ ràng liên quan việc tạm ngưng xuất khẩu gạo, giá lúa đã giảm, không có người mua và dự báo giá sẽ còn rớt mạnh nếu không được xuất khẩu.

Việt Nam đã từng có nhiều bài học đắt giá cho việc điều hành xuất khẩu gạo. Chúng ta không nên để lặp lại sự cố thất bại thê thảm trong điều hành xuất khẩu gạo năm 2008, khi ấy gạo Việt Nam đang có giá thì buộc phải dừng xuất khẩu, chờ giá lên, nhưng sau đó giá gạo tuột thê thảm, doanh nghiệp thiệt hại lớn. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam khi ấy rơi vào tay Thái Lan và doanh nghiệp Việt phải mất rất nhiều thời gian mới giành lại được thị trường.

Trong kinh doanh, cơ hội vàng rất hiếm. Nếu chậm trễ xuất khẩu gạo, người nông dân và doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ cơ hội bán được gạo giá cao, doanh nghiệp chậm trễ cung cấp gạo theo hợp đồng có thể bị phạt, bị mất uy tín và ảnh hưởng đến việc ký kết các hợp đồng sau này. Các nước biết trong kho của Việt Nam còn nhiều gạo mà không bán thì sau này họ cũng sẽ dè chừng.

Các đối thủ trong xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng nhân cơ hội này mà lấn tới, như Thái Lan, Campuchia, đặc biệt là Myanmar. Đất đai Myanmar còn tốt hơn Việt Nam, nếu có cơ chế phát triển thì đủ sức cạnh tranh xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới.

Myanmar từng được mệnh danh là “Chén cơm của châu Á”. Các năm 1901-1920 họ xuất trung bình 2,2 triệu tấn mỗi năm. Từ 1921-1941 xuất gần 3 triệu tấn mỗi năm. Từ 1941-1961 vẫn duy trì được lượng xuất trung bình 1,4 triệu tấn mỗi năm.

Thế nhưng, trước đây họ còn tồn tại tình trạng độc quyền, việc áp đặt giá và buộc nông dân phải bán sản phẩm cho nhà nước, kiểm soát xuất khẩu gạo, lúc cho xuất khẩu, lúc ngưng làm mất lòng tin khách hàng. Với chính phủ Myanmar hiện nay, họ tập trung đưa ra các chính sách để phục hồi nền nông nghiệp và sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm của Việt Nam.

Bên cạnh những nguy cơ doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam phải đương đầu nếu không được tiếp tục xuất khẩu gạo trở lại, hậu quả nghiêm trọng nhất vẫn là nó khiến người nông dân trồng lúa mất niềm tin. Khi đã mất niềm tin thì người dân sẽ bỏ ruộng, đặc biệt là những người trẻ. Họ lựa chọn rời bỏ làng quê, đi làm ở các khu công nghiệp trên thành phố còn hơn là nối nghiệp cha ông làm nông, bởi nếu làm theo kiểu sàng lên sàng xuống như vậy sẽ không bao giờ khấm khá được.

PV: - Theo ông, Bộ Công thương cần lưu ý rút kinh nghiệm ra sao trong công tác tham mưu? Chúng ta đã từng chứng kiến những đơn vị nhà nước có quan điểm trái ngược nhau về cùng một chủ trương, điều này cần phải khắc phục như thế nào?

TS Lê Văn Bảnh: - Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này: đã là kinh tế thị trường, mở cửa buôn bán với các nước trên toàn thế giới thì phải nắm được thông tin, dự báo kịp thời và cơ quan tham mưu bắt buộc phải làm được điều đó.

Bao nhiêu năm nay ngành nông nghiệp Việt Nam cứ lấn bấn do dự báo, dự đoán thị trường, xúc tiến thương mại kém và kém cả việc khuyến cáo bà con nông dân nên trồng cái gì, sản xuất ra sao, sản lượng bao nhiêu...  Không lẽ chúng ta cứ kém mãi?

Chúng ta đừng để kịch bản của năm 2008 lặp lại, đừng để người nông dân một nắng hai sương chịu thiệt thòi mãi và quan trọng là phải có chế độ đãi ngộ, khuyến khích người nông dân.

Vấn đề này tôi đã góp ý nhiều năm nay, nhưng mỗi lần góp ý thì người ta chỉ... cười trừ, và nói nông dân mình thật thà, rồi họ sẽ thông cảm thôi. Vậy mà mỗi khi có chuyện gì thì người nông dân lại bị trách đầu tiên, chẳng hạn trách người nông dân trồng rồi chặt, sản xuất không theo kế hoạch, thấy cái gì giá cao thì đổ xô làm theo, rồi trách người nông dân trồng lúa chất lượng kém. Kém gì ở đây?

Tôi đi nhiều nước Đông Nam Á, thấy so với nông dân Thái Lan, Indonesia, Malaysia, nông dân Việt rõ ràng trên tài, trình độ rất giỏi. Làm giám khảo nhiều hội thi nông dân, thấy người nông dân lên phát biểu về sản xuất mà tôi cứ ngỡ họ là kỹ sư nông nghiệp.

Cho nên không thể trách người nông dân. Nếu trách nông dân trồng lúa chất lượng kém, vậy nếu nông dân trồng lúa chất lượng cao có ai dám mua lúa giá cao hay không? Tương tự, khâu chế biến là của doanh nghiệp chứ không phải của người trồng lúa.

Bây giờ nếu doanh nghiệp đặt hàng nông dân sản xuất giống gạo ngon nhất thế giới ST25, tôi cam đoan nông dân làm được.

Vì lẽ đó, làm gì thì cơ quan quản lý cũng phải nghĩ đến người nông dân và có trách nhiệm với người nông dân.

Thành Luân

Thứ Sáu, 03/04/2020 13:48

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện