Chặn đường xuất gạo giá cao: Việt Nam tự buộc chân mình!

(Thị trường) - Vấn đề cần tháo gỡ hiện nay chính là hai TCT lương thực. Tập hợp hai đơn vị đó nhưng cuối cùng vẫn là độc quyền thì chẳng thay đổi được gì.

TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL nói như vậy khi bàn về việc hàng loạt doanh nghiệp mất quyền xuất khẩu gạo vì vướng cơ chế.

PV: - Hàng loạt doanh nghiệp bị mất quyền xuất khẩu gạo do vướng phải nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo (có hiệu lực  từ ngày 1/1/2011). Theo Nghị định này, doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải có ít nhất một kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc (lúa) và một cơ sở xay xát thóc công suất tối thiểu 10 tấn/giờ.

Xét về lý, đó là một yêu cầu hợp lý để đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu có số lượng và chất lượng ổn định. Tuy nhiên, chiếu theo thực tế hiện nay ở Việt Nam thì quy định trên sẽ chặn đường xuất khẩu của các doanh nghiệp tư nhân nhỏ. Điều này có công bằng không khi chúng ta có hai tổng công ty lương thực được ưu đãi nhiều mặt?

TS Lê Văn Bảnh: - Khi ra NĐ 109, những người tham mưu cho Chính phủ cũng không lường trước hết được những vấn đề đó. Trước khi có NĐ 109 tồn tại bất cập là có những doanh nghiệp đi buôn nước bọt, "tay không bắt giặc" nhưng nhờ có quen biết với Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) , hoặc có đường dây nào đó mà được cấp quota xuất khẩu.

Tuy nhiên, những doanh nghiệp này không có vùng nguyên liệu, không có nhà máy chế biến..., chỉ buôn đi bán lại dưới dạng trung gian, xoay được quota liền xuất khẩu lấy lãi. Ngân hàng thế giới cũng mở cuộc điều tra và thấy trong các khâu: sản xuất của nông dân, thương lái, vận chuyển, xay xát, đánh bóng, xuất khẩu thì khâu xuất khẩu ăn lãi lớn nhất, còn người cặm cụi làm là nông dân thì chẳng được bao nhiêu. Dư luận, nông dân, các doanh nghiệp phản ánh điều này, năm 2010 Chính phủ mới ra NĐ 109 để khống chế các doanh nghiệp xuất khẩu, vào thời điểm đó có tận 150-200 đầu mối.

TS Lê Văn Bảnh
TS Lê Văn Bảnh

Nói vậy để thấy khi ra Nghị định này là có thiện chí chứ không phải không. Nhưng trong quá trình xiết lại, có một bộ phận tham mưu không nắm được thực tế, thành ra khi NĐ 109 ra đời, có những cái người ta thấy được như: giảm bớt những doanh nghiệp tay không bắt giặc để làm sao họ muốn xuất khẩu phải có kho tàng, nhà máy, nghĩa là thực sự tham gia vào khâu sản xuất.

Nhưng cái khó là hiện nay xuất khẩu của Việt Nam dựa vào xuất khẩu gạo trắng, trong đó có nhiều loại 25% tấm, 15% tấm, 5% tấm thì nhiều doanh nghiệp trộn lẫn để xuất kiếm lời. NĐ 109 nhằm hạn chế những doanh nghiệp như vậy nhưng lại quên những doanh nghiệp đặc thù.

Gạo Việt Nam hiện nay như dạng vừa nói ở trên chỉ xuất khẩu 400-450 USD/tấn là hết mức. Nhưng có những người làm gạo hữu cơ như Viễn Phú hoặc một số nơi khác gạo có chất lượng cao xuất khẩu được vài ngàn đô la một tấn. Các loại gạo đặc sản như thế không thể đấu thầu vài trăm nghìn tấn như Vinafood đã làm với Philippines mà bán được vài ngàn tấn đã là nhiều nhưng giá trị cao.

Nhà nước đã quên mất điều này này thành ra các doanh nghiệp làm gạo đặc thù, đặc sản không có chỗ đứng. Kèm theo đó là mấy doanh nghiệp tìm cách đối phó, cố gắng có được kho chứa được 5.000 tấn thóc nhưng kho ấy chỉ có cái mái che thay vì kho phải có băng chuyền, đảm bảo thông thoáng, nhiệt độ phù hợp.... theo quy định quốc tế. Ấy là vì văn bản của nhà nước không quy định rõ điều này.

Quy định của nhà nước đúng ra thiếu một nội dung quan trọng, đó là vùng nguyên liệu. Lẽ ra với những doanh nghiệp có vùng nguyên liệu như Viễn Phú, vì sản xuất gạo đặc thù nên nhà máy xay xát, kho bãi nhỏ, lượng hàng xuất không thể vài chục, vài trăm ngàn tấn như lúa xô được, thì Nhà nước phải cho họ quyền xuất khẩu.

PV: - Mục tiêu ban đầu của NĐ109  là để hạn chế việc nở rộ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng như việc cạnh tranh không lành mạnh thi nhau bán gạo giá thấp ra thế giới. Thế nhưng, nhìn lại những hợp đồng xuất khẩu gạo Việt Nam (mà cụ thể là hai tổng công ty lương thực) giành được trong thời gian qua, điển hình là vụ Việt Nam trúng thầu cung cấp 800.000 tấn gạo cho Philippines nhờ bỏ giá thấp hơn các nhà thầu khác 28-32 USD/tấn, rõ ràng hai tổng công ty lương thực đã rơi vào điều tối kỵ mà NĐ 109 muốn tránh.

Ông bình luận như thế nào về thực tế này? Phải lý giải thế nào về sự bất hợp lý tồn tại nhiều năm nay nhưng chưa được tháo gỡ khiến cho việc xuất khẩu gạo trở thành "sân chơi" của 2 tổng công ty lương thực và các công ty sân sau của họ, rồi phần thiệt người nông dân phải chịu?

TS Lê Văn Bảnh: - Hai tổng công ty lương thực tồn tại từ thời bao cấp, lúc đó thu mua lương thực để cung cấp tem, phiếu... thành ra từ xưa đến nay các ông này đã quen với việc đó rồi. Chứ để mà đàm phán, xúc tiến thương mại, thông tin kịp thời, chính xác thì hai tổng công ty này không có năng lực đó. Vì năng lực yếu nên hai tổng công ty cứ lo bán trong nước, lâu lâu lại chạy ra nước ngoài gặp đâu bán đó, sợ bỏ giá cao thì người ta không mua, thời cơ lại không biết nên đấu đại, trúng thì trúng.

Sau quá trình xúc tiến thương mại, nắm được nhu cầu của từng thị trường, từng khách hàng cụ thể rồi mới về tạo vùng nguyên liệu, đặt hàng cho nông dân sản xuất, cái nào chưa có, chưa đủ thì đặt hàng cho các nhà khoa học nghiên cứu, đưa ra quy trình sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trường lúc đó mới có gạo có chất lượng cao, giá trị cao, có chỉ tiêu đúng tiêu chuẩn người mua yêu cầu, nghĩa là sản xuất theo yêu cầu của thị trường.

Sản xuất gạo giá trị cao, nông dân Việt Nam giỏi có thể làm được, nhưng không ai nói cho nông dân nên người ta cứ trồng đại. Bây giờ phải giải bài toán khách hàng cần gì, doanh nghiệp cần gì, tạo vùng nguyên liệu, ai đầu tư, ai bao tiêu... từ đó mới tạo ra thương hiệu. Còn Vinafood 1, Vinafood 2 thêm đi thêm lại cuối cùng cũng chỉ thu gom rồi bán.

Ưu tiên xuất khẩu gạo cho doanh nghiệp có vùng nguyên liệu trồng lúa
Ưu tiên xuất khẩu gạo cho doanh nghiệp có vùng nguyên liệu trồng lúa

PV: - Trong khi đó, mới đây, Bộ Công thương đã đề xuất và được chấp thuận bổ sung Tổng công ty Lương thực miền Bắc vào danh sách đầu mối xuất khẩu gạo. Bản thân tổng công ty này cũng vừa được tăng thêm vốn tới vài ngàn tỷ. Ông đánh giá như thế nào về việc thêm quyền và lực cho hai tổng công ty lương thực nói trên? Hệ quả của nó sẽ là gì, thưa ông?

TS Lê Văn Bảnh: - Vinafood 1 ở ngoài Bắc vào đây thu gom. Cái quan trọng là đầu tư vùng nguyên liệu mà Vinafood 1 không dám đầu tư, nếu thêm này thêm nọ mà vẫn đi thu gom thì ngành lúa gạo Việt Nam muôn đời vẫn vậy.

Như trong xây dựng cơ bản, đấu thầu thấp để trúng thầu rồi về làm sao mua vật liệu tốt, thuê thợ giỏi được, ngôi nhà làm sao có chất lượng cao. Các tổng công ty lương thực cũng đi theo quy trình ngược này.

PV: - Chiêu bài "mua rẻ bán rẻ" đã nhận phải trái đắng khi mới đây, Việt Nam đã giành quyền cung cấp 200.000 tấn gạo cho Philippines sau khi đồng ý giảm 4 USD/tấn theo đề nghị của cơ quan lương thực quốc gia Philippines. Trước đó, có thông tin, dù đã bỏ thầu thấp nhất ở mức 460 USD/tấn, mức thấp nhất trong các nước dự thầu nhưng vẫn không trúng thầu do cao hơn mức giá trần Philippines đưa ra 456,6 USD/tấn.

Một điểm đáng chú ý khác là Thái Lan đã nhận được hợp đồng 300.000 tấn gạo, cao hơn Việt Nam với mức giá như vậy.

Qua đó, có thể thấy Philippines đã nắm thóp được chiêu bài mua rẻ bán rẻ của Việt Nam nên đã dìm được giá gạo Việt Nam. Ngoài ra, cũng có thể thấy, Thái Lan cũng chứng tỏ sẽ bán gạo giá rẻ, cạnh tranh với Việt Nam.

Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân muốn xuất khẩu sang các thị trường khó tính (châu Âu, Mỹ, Nga) với giá cao thì bị vướng NĐ 109, phải nhờ cậy hai tổng công ty lương thực với chi phí cao nên đang khó trăm đường.

Nhìn vào những thực tế trên, liệu có thể hiểu, xuất khẩu gạo Việt Nam đang tự dùng hai tổng công ty lương thực để bó chân mình hay không và vì sao? Để tháo gỡ những khó khăn này, chúng ta cần phải làm gì?

TS Lê Văn Bảnh: - Vấn đề cần tháo gỡ hiện nay chính là hai tổng công ty lương thực. Nếu tập hợp hai đơn vị đó lại với nhau nhưng ngó đi ngó lại cuối cùng vẫn là độc quyền thì chẳng thay đổi được gì.

Vấn đề các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp phải không chỉ có mình công ty Viễn Phú. Ở Cần Thơ có công ty Trung An có vùng nguyên liệu, Malaysia vào kiểm tra dư lượng, thấy lúa gạo đúng quy trình, có địa chỉ địa lý hẳn hoi nên đặt hàng 85.000 tấn. Nhưng khi làm thủ tục, VFA chỉ giao cho họ có 35.000 tấn còn 50.000 tấn thì giao cho các công ty sân sau của mình. Nhưng phần của các công ty kia thì Malaysia cắt hợp đồng vì "tôi chẳng biết mấy ông này là ai", đâu thể biết các công ty được ủy thác sẽ trộn gì vào gạo?

Nói vậy để thấy lãnh đạo Bộ cứ ra rả nói chuyện nâng cao giá trị hạt gạo để làm cho nông dân khá hơn nhưng lại không nâng đỡ những người làm gạo đặc thù, chất lượng cao. Thay vì nâng đỡ, nhà nước lại dùng cơ chế để cột lại thì biết làm sao bây giờ? Rõ ràng đây là mình tự bó chân mình.

PV: - Với tư cách Bộ chủ quản, Bộ Công thương không đề xuất điều chỉnh những điểm bất hợp lý mà chỉ xin thêm quyền lợi cho hai tổng công ty lương thực, như vậy, họ đã làm hết trách nhiệm của mình chưa? Có thể đặt vấn đề "nhóm lợi ích" ở đây không và vì sao, thưa ông?

TS Lê Văn Bảnh: - Tôi gặp mấy ông, ông nào cũng nói mình làm hết trách nhiệm vì dân vì nước nhưng phải nói cho rõ là năng lực, hệ thống có vấn đề. Thực chất là năng lực các ông yếu, thử hỏi xúc tiến thương mại, dự báo thị trường... các ông đã làm được chưa? Thông thường, cái nào có độc quyền thì chẳng hay ho gì. Đồng ý là có doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng phải có công ty nọ, công ty kia tham gia cạnh tranh, thể hiện năng lực. Chứ chỉ để mấy doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi nhiều quá thành ra ỷ lại, tự mãn với nhau kho tàng nhiều, tiền có bao nhiêu nghìn tỷ nhưng năng lực yếu thì chẳng khá được.

Chúng ta xuất khẩu gạo đã hơn 20 năm mà phương cách làm vẫn không ổn, vẫn ôm ấp như thời bao cấp. Nếu không thay đổi thì 20 năm nữa chắc cũng vẫn vậy. Phải đa dạng hóa các doanh nghiệp, có cạnh tranh, đầu tư nâng cấp khả năng về xúc tiến thương mại, dự đoán, dự báo thị trường, năng lực trong kinh doanh, sản xuất, mạnh dạn đầu tư các vùng nguyên liệu.

Thành Luân

Thứ Năm, 25/09/2014 13:48

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện