Có phải người Việt nghèo mà "hoang"?

(Thị trường) - Phế phẩm nông nghiệp dồi dào nhưng bị xem như chất thải và vứt bỏ; khai khoáng chỉ chú trọng lấy phần trữ lượng giàu nhất...

Đốt rơm rạ = Đốt tiền

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên phế phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, trấu, bã mía...) rất dồi dào. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết tận dụng chúng làm nguyên liệu để sản xuất ra các sản phẩm có giá trị kinh tế, vừa bảo vệ môi trường.

Trong suốt bao năm, đốt đồng đã trở thành hình ảnh hết sức quen thuộc mỗi khi bà con nông dân gặt lúa xong, lượng rơm rạ được khoanh lại, bán đi để bà con tăng thêm thu nhập không nhiều. Nguyên nhân một phần là do ruộng xa bờ sông, đường vận chuyển.

"Để vận chuyện mấy tấn rơm ở cánh đồng cách đường hay bờ sông chừng 500-700m là cả một vấn đề lớn, tiền bán không đủ bù chi phí vận chuyển. Cho nên, người dân thường chọn cách đốt bỏ", GS.TS Nguyễn Bảo Vệ, khoa Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ nói và khẳng định người dân đốt bỏ rơm rạ chính là đốt đi tiền của mình.

Ông thử làm một phép tính toán: Nếu bà con sản xuất trên 1ha được 7 tấn lúa, thì bà con có 7 tấn rơm rạ. 7 tấn rơm rạ này nếu như được sử dụng để làm phân hữu cơ trả lại cho đồng ruộng thì ông tính ra lượng dinh dưỡng trong đó tương đương với 2 bao Urê, cộng 1 bao lân, cộng 4 bao Kali. Như vậy, 7 tấn rơm rạ có 7 bao phân mà người dân thường gọi là NPK. 1ha lúa sau khi thu hoạch nếu rơm rạ bị đốt đi là nhà nông đã lãng phí khoảng 350kg phân NPK.

GS.TS Nguyễn Bảo Vệ khẳng định, người nông dân biết rơm rạ là chất dinh dưỡng cho đất và biết lãng phí khi đốt trong khi vẫn phải mua phân hữu cơ về bón ruộng nhưng họ không còn cách nào khác.

Lý do là vì người nông dân phải làm 3 vụ lúa trong năm, phải giải phóng đất nhanh. Bởi khoảng cách giữa các vụ rất ngắn nên không có thời gian cho đất nghỉ, rơm rạ phân hủy trên đồng ruộng được.

"Chỉ khi rơm rạ phân hủy được trên đồng ruộng thì mới trả lại được cho đất chất dinh dưỡng. Đằng này làm 3 vụ rất cập rập, xong vụ nào là người dân tìm cách giải phóng rơm rạ ra khỏi đất, đốt bỏ hoặc bán đi, tức là "bán máu, đốt tiền" của chính mình. Kết quả là đất trồng bị biến chất, trở nên chai cứng, khô cằn. Chưa kể, bỏ tro rơm rạ ra ngoài đồng hoặc kênh rạch sẽ làm tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng", GS.TS Nguyễn Bảo Vệ chỉ rõ.

Co phai nguoi Viet ngheo ma
Rơm rạ có nhiều lợi ích nhưng người dân vẫn đốt bỏ sau mỗi vụ mùa.

Cho rằng trả lại rơm rạ cho đất là con đường quý nhất, vị chuyên gia nông nghiệp bày tỏ, nhiều năm qua Việt Nam đã không còn phải lo lắng về an ninh lương thực khi sản xuất có dư, lại thêm xuất khẩu. Do đó, các địa phương cần vận động, khuyến khích bà con làm hai vụ. Bên cạnh chủ trương chung, cần quy hoạch lại hệ thống đường nước vì có liên quan đến cả cánh đồng lớn.

"Người nông dân dù thấy làm hai vụ tốt hơn nhưng họ bị kẹt trong cái chung, chẳng hạn như đường nước vào cánh đồng, nên dẫu muốn cải cách cũng khó làm được", ông nói.  

Khai thác khoáng sản kiểu "ăn xổi"

Cách đây khoảng 10 năm, các chuyên gia Viện Tư vấn Phát triển (CODE) cùng Trung tâm Con người và Thiên nhiên đã chỉ rõ, do năng lực có hạn, phần lớn khai thác thủ công, doanh nghiệp khai thác lại muốn thu lợi nhuận nhanh nên chỉ chú trọng lấy những phần trữ lượng giàu nhất, bỏ đi toàn bộ quặng nghèo và khoáng sản đi kèm dẫn đến lãng phí tài nguyên.

Một số điều tra, nghiên cứu của CODE khi ấy cho biết, trong khai thác vàng, tỷ lệ thu hồi quặng vàng chỉ đạt khoảng 30-40%, phần còn lại thải ra ngoài môi trường. Ngoài ra, mức độ tổn thất trong khai thác apatit là 26-43%; khai thác quặng kim loại là 15-30%, vật liệu xây dựng là 15-20%.

Tình trạng tổn thất tài nguyên diễn ra ở hầu hết các công đoạn của hoạt động khoáng sản, từ quản lý kế hoạch khai thác, khai thác-chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp không đủ năng lực cả về tài chính, thiết bị, công nghệ lẫn kinh nghiệm nhưng vẫn được cấp mỏ, khai thác và chế biến bằng công nghệ lạc hậu gây lãng phí tài nguyên.

Ở một số khu vực, quặng không được khai thác triệt để trên toàn bộ diện tích cấp phép vì không có khả năng giải phóng hết mặt bằng. Công nghệ khai thác, chế biến thô sơ không phù hợp với đặc điểm và thành phần khoáng vật của quặng, nên mức độ thu hồi thấp và không thu hồi được khoáng vật đi kèm. Nhiều đơn vị không đầu tư tuyển tinh, xuất khẩu thô làm tổn thất một số quặng khác.

Theo chuyên gia địa chất và khoáng sản - PGS.TS Nguyễn Văn Phổ, cho tới nay, tổn thất tài nguyên trong khai thác khoáng sản của Việt Nam vẫn còn lớn, vẫn chưa thu được quặng nghèo. Vấn đề ở đây chính là bài toán kinh tế, khi doanh nghiệp tính toán rằng khai thác quặng nghèo không có lãi thì họ không đầu tư.

Đáng lưu ý, ông chỉ ra câu chuyện tưởng chừng như là nghịch lý, đó là khi chế biến sâu thì Việt Nam phải gánh thêm phần chất thải thải ra từ quá trình chế biến ấy.

"Nếu bán quặng thô cho nước ngoài chế biến thì phần chất thải ấy nước ngoài phải chịu, nhưng bán quặng thô thì giá rất rẻ. Trong khi đó, nếu chế biến sâu, Việt Nam phải hứng thêm chất thải, mà chất thải trong chế biến quặng rất nguy hại và khó xử lý, thậm chí hàng trăm năm sau vẫn còn. Đây là vấn đề nhức nhối mà ngay cả các nước hiện đại như châu Âu cũng phải vật lộn xử lý bao năm nay", PGS.TS Nguyễn Văn Phổ cho biết.

Đối với chất thải trong chế biến khoáng sản, theo vị chuyên gia, cho tới nay, nhiều loại vẫn chỉ được vùi lập tạm thời. Chẳng hạn, chứa chất thải trong bể lắng, phủ nước lên để chất thải không tiếp xúc với không khí. Nhưng trong trường hợp nước cạn, chất thải lại trồi lên.

Trước thực trạng này, theo PGS.TS Nguyễn Văn Phổ, nhiều năm qua, giới chuyên gia đã nghiên cứu và đề xuất khi đánh giá mỏ phải đánh giá phần khai thác được và phần trả giá cho môi trường, lợi nhuận còn lại bao nhiêu mới thuộc về doanh nghiệp.

"Bây giờ, doanh nghiệp chỉ đóng thuế một chút, trong khi sự trả giá - nhất là trả giá về môi trường, có khi còn lớn hơn cái mỏ.

Nhưng cái khó ở chỗ ai biết hậu họa môi trường thế nào về đánh giá cho đúng, cho đủ. Hiện các dự án đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), nhưng thực tế thì ĐTM chỉ là cái trước mắt, một thủ tục đi kèm để doanh nghiệp được quyền khai thác", PGS.TS Nguyễn Văn Phổ chỉ ra thực tế.

Thành Luân

Thứ Ba, 12/01/2021 13:31

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện