Làn sóng FDI hậu Covid-19: Thu hút nhưng không phụ thuộc

(Thị trường) - Nền kinh tế sẽ không tăng trưởng thành công nếu tiền chỉ đổ vào túi của một số ít người, số đông còn lại gặp khó khăn, môi trường ô nhiễm...

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/4/2020, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài 4 tháng đầu năm 2020 đạt 12,33 tỷ USD, bằng 84,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi đó, góp vốn mua cổ phần giảm mạnh, làm giảm tổng vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, vốn đăng ký 4 tháng đầu năm 2020 vẫn tăng lần lượt 52,3%, 16,4% và 79% so với cùng kỳ năm 2018, 2017 và 2016.

Đã có 93 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, trong đó Singapore dẫn đầu với vốn đầu tư lên đến 5,07 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng vốn đầu tư. Theo sau là Thái Lan (1,46 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư), Nhật Bản (1,16 tỷ USD, chiếm 9,4% tổng vốn đầu tư), Trung Quốc đại lục, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc.

Một tin vui khác, đầu tháng 5, Nikkei Asian Review đưa tin khoảng 3-4 triệu tai nghe, tức 30% tổng sản lượng AirPods, sẽ được Apple sản xuất tại Việt Nam vào quý này.

Động thái trên nằm trong nỗ lực của các công ty đa quốc gia nhằm đa dạng chuỗi cung ứng, tránh cảnh phụ thuộc vào duy nhất Trung Quốc, đặc biệt khi dịch Covid-19 phơi bày tính dễ tổn thương của điều này.

Thời điểm để thu hút dòng vốn chất lượng cao

Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm sáng đón làn sóng dịch chuyển đầu tư mới. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý định hướng thu hút FDI của Việt Nam lúc này là chọn lọc và đón dòng vốn chất lượng.

Trao đổi với Zing, ông Emanuel Pastreich, Chủ tịch Viện châu Á tại Washington (Mỹ), nhấn mạnh: “Trước khi đón làn sóng dịch chuyển đầu tư, cần phải biết rằng liệu khoản đầu tư đó có mang lại lợi ích lâu dài hay không. Nếu đầu tư nước ngoài đáp ứng chiến lược của Việt Nam, hãy cân nhắc. Nếu không, cần phải từ chối”.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, cũng cho rằng đây là lúc nên thay đổi tư duy về thu hút dòng FDI vào Việt Nam.

“Thực tiễn chứng minh trong hàng chục năm qua, không ít doanh nghiệp FDI có những bất cập nhất định như khai thác tài nguyên, khai thác lao động giá rẻ, khai thác ưu đãi của Việt Nam, thậm chí chèn ép doanh nghiệp trong nước”, TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

“Việt Nam cần đặt ra mục tiêu riêng. Đó là thu hút vốn như thế nào và cần gì từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là thời điểm để thu hút dòng vốn chất lượng cao”, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng nói thêm.

Theo đó, Việt Nam cần chuẩn bị nguồn lao động, năng lượng, quy hoạch, hạ tầng, thủ tục và nguồn đất đai để thu hút dòng vốn chất lượng.

“Không thể ngồi chờ, nếu ngồi chờ thì các nước khác sẽ hớt hết cái ‘ngon’ nhất, phần còn lại mới chạy đến Việt Nam”, TS Nguyễn Đình Cung nói.

Dòng FDI chất lượng thường là những dự án quy mô lớn mang lại giá trị cao, trong khi các dự án nhỏ, vụn vặt sẽ khó thay đổi công nghệ, đem theo rủi ro lớn và gây ô nhiễm môi trường. Thậm chí, đã từng có trường hợp doanh nghiệp FDI tại Việt Nam làm ăn thua lỗ, nợ lương công nhân, tiền bảo hiểm và thuế.

Lan song FDI hau Covid-19: Thu hut nhung khong phu thuoc
Việt Nam kiểm soát dịch Covid-19 thành công là một trong những điểm thu hút đầu tư nước ngoài  đến Việt Nam

Theo Chủ tịch Viện châu Á Emanuel Pastreich, trong tương lai gần, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội để thu hút FDI và tăng tốc độ phát triển kinh tế. Nhưng nền kinh tế sẽ không tăng trưởng thành công nếu tiền chỉ đổ vào túi của một số ít người, trong khi số đông còn lại gặp khó khăn trong công việc, môi trường bị ô nhiễm, vấn đề biến đổi khí hậu trở nên nghiêm trọng.

Giới quan sát nhận định Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, sở hữu tiềm năng kinh tế lớn nhưng có thể mắc phải sai lầm nếu theo đuổi kế hoạch phát triển lỗi thời và không mang lại lợi ích lâu dài. Đây cũng là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng ngập lụt do nước biển dâng vì biến đổi khí hậu. Thách thức này đòi hỏi những thay đổi và kế hoạch dài hạn.

“Đừng để nhà máy thay thế cánh đồng. Giới quan sát tin rằng an ninh lương thực sẽ là vấn đề chính của toàn cầu trong vòng 20 năm nữa. Đó là lý do Việt Nam cần dự đoán tương lai thế giới và xây dựng chiến lược dài hạn để vượt qua thách thức và tìm kiếm cơ hội”, Chủ tịch Viện châu Á nhấn mạnh.

Ngoài ra, việc thu hút FDI nhưng không phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài là rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

“Người Việt Nam hiểu rất rõ về sự cần thiết của nền kinh tế tự chủ. Tuy nhiên ngày nay, nhiều người bị ám ảnh bởi những thứ mới mẻ đến từ nước ngoài. Thách thức của thế hệ trẻ Việt Nam không giống với thế hệ trước, nhưng tư duy độc lập và việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ vẫn rất quan trọng đối với người Việt”, ông Emanuel nói thêm.

Nguy cơ thâu tóm doanh nghiệp Việt

Một điểm đáng lưu ý, dòng vốn FDI trong thời gian vừa qua tăng mạnh vào góp vốn, mua cổ phần. Cụ thể, có tới 3.210 lượt góp vốn, mua cổ phần với tổng giá trị gần 2,48 tỷ USD, tăng 32,9% số lượt góp vốn, mua cổ phần và bằng 34,7% giá trị so với cùng kỳ năm 2019.

Có thể thấy, doanh nghiệp nước ngoài đang dần tăng mạnh đầu tư vào các doanh nghiệp nội (tăng 32,9%) hơn là đăng ký mới (giảm 9,1%).

Thực tế, dòng vốn dịch chuyển từ đầu tư mới sang mua cổ phần đã xuất hiện từ lâu. Từ năm 2018 đã có những ghi nhận chuyển biến rõ rệt. Năm 2019, hình thức đầu tư, mua bán và sáp nhập (M&A) ngày càng chiếm tỉ trọng lớn và tốc độ tăng nhanh.

Đáng chú ý, dòng vốn này tập trung chủ yếu vào các ngành, lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 1 tỷ USD, chiếm 40,6% tổng vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 508,2 triệu USD, chiếm 20,5%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 250,3 triệu USD, chiếm 10,1%; các ngành còn lại đạt 713 triệu USD, chiếm 28,8%.

Theo giới chuyên gia, thay vì xây dựng mới, các doanh nghiệp FDI lựa chọn việc góp vốn, mua cổ phần, vừa tận dụng được cơ sở hạ tầng có sẵn của các doanh nghiệp góp vốn, lại hưởng được những cơ chế, chính sách ưu đãi.

Việc các doanh nghiệp nước ngoài đẩy mạnh vào góp vốn còn giúp các doanh nghiệp Việt tiếp cận được với hệ sinh thái doanh nghiệp ngoại, đảm bảo được sự cung ứng không đứt gãy trong chuỗi liên kết hàng hóa trên thế giới.

Tuy nhiên, điều này cũng gây ra nhiều lo ngại cho thị trường nội địa khi xuất hiện những doanh nghiệp nước ngoài thông qua các thương vụ M&A để chiếm lĩnh thị trường.

Trong vài năm qua, chúng ta đã nói nhiều về việc các doanh nghiệp Thái Lan chiếm lĩnh nhiều mảng thị trường tại Việt Nam, như ThaiBev mua lại Sabeco, Central Group mua lại Big C, hay C.P Group hiện đang chiếm lĩnh thị trường thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam…

Đến nay, nhiều ngành hàng, lĩnh vực trên thị trường Việt Nam đã thuộc về tay các doanh nghiệp nước ngoài. Hay nói chính xác hơn là không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp ngoại, khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển đổi từ nghiên cứu sản xuất ban đầu thành gia công sản xuất.

Đáng chú ý hơn, những ngành hàng sản xuất này hiện nay trong nước đã có đủ tiềm năng, công nghệ để tự đứng ra làm, nhưng không thể cạnh tranh được với doanh nghiệp nước ngoài với nguồn lực mạnh hơn rất nhiều.

Trong khi đó, nhiều ngành sản xuất trong nước hiện yếu, và thiếu cả về công nghệ lẫn nguồn vốn thì đang rất khó để thu hút vốn FDI như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, môi trường…

Do đó, đã đến lúc cần lựa chọn dòng vốn FDI để phục vụ cho các lĩnh vực thay đổi được căn bản các hoạt động sản xuất trong nước khi Việt Nam đang thiếu, chưa có, thay vì thu hút vốn FDI trên mọi lĩnh vực như hiện nay.

Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 22/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quyết định lập Tổ công tác đặc biệt và đề án thu hút FDI, đón làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam sau đại dịch.

Minh Thái (Tổng hợp)

Chủ Nhật, 24/05/2020 09:52

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện