Nông nghiệp canh cánh việc nhập khẩu hết trừ... đất, nông dân

(Thị trường) - Ngành nông nghiệp vui mừng coi năm 2014 là năm được mùa, được giá, tuy nhiên thế nhưng nỗi buồn về một nền nông nghiệp phụ thuộc vẫn còn canh cánh.

Đầu vào: Nhập khẩu hết trừ... đất và nông dân!

Theo Bộ NN&PTNT, trong tổng giá trị nhập khẩu toàn ngành nông, lâm, thuỷ sản trong 11 tháng năm 2014 là gần 19,78 tỷ USD, thì nhập khẩu vật tư nông nghiệp chiếm chủ yếu. Lượng thuốc trừ sâu và nguyên liệu nhập khẩu tiêu tốn 690 triệu USD, giá trị nhập khẩu cả năm 2014 ước đạt 774 triệu USD, tăng 3,5% so với năm 2013. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính chiếm 53% tổng kim ngạch nhập khẩu. Khối lượng nhập khẩu phân bón trong 11 tháng đạt 3,5 triệu tấn với giá trị 1,163 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu phân bón cả năm 2014 ước đạt gần 3,94 triệu tấn.

Tình trạng thức ăn chăn nuôi còn thê thảm hơn khi nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi 11 tháng năm 2014 đạt 2,98 tỷ USD, đưa giá trị nhập khẩu cả năm ước đạt gần 3,24 tỷ USD, tăng 5,2% so với năm 2013. lớn hơn số tiền Việt Nam thu được từ xuất khẩu gạo. 

Dù nông nghiệp Việt đạt nhiều thành tích về xuất khẩu nhưng đời sống của người nông dân vẫn bấp bênh
Dù nông nghiệp Việt đạt nhiều thành tích về xuất khẩu nhưng đời sống của người nông dân vẫn bấp bênh

Suốt năm 2014, người ta cứ buồn mãi khi nghe con số mà Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) công bố: năm 2013, Việt Nam chi tới 500 triệu USD để nhập khẩu hơn 8.000 tấn hạt giống các loại nhằm cung ứng cho 700.000 ha sản xuất rau của cả nước. 

Ấy thế nhưng, với những người gắn bó nhiều năm với ngành nông nghiệp Việt Nam đó lại là chuyện hết sức bình thường bởi "Việt Nam có làm được gì đâu mà không nhập!", TS Lê Hưng Quốc, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt đã thốt lên như vậy với Đất Việt. Thậm chí, ông còn cho rằng, ngoài đất và con người, hầu hết đầu vào của nông nghiệp Việt Nam đều nhập khẩu. Những số liệu nói trên đã phần nào minh chứng lời ông nói.

"Những giống tốt nhất của Việt Nam hiện nay hoàn toàn là giống nhập. Trong 500 triệu USD dùng để nhập khẩu hạt giống rau, hầu hết đều là những hạt giống Việt Nam chưa làm được, nếu có làm thì hạt cũng lép, năng suất kém do điều kiện sinh thái, khí hậu... Hiện Việt Nam mới chỉ tạo ra được những giống rau bình thường, còn các mặt hàng cao cấp như bắp cải, súp lơ, hành tây, su hào, cà rốt, dưa chuột, cà chua Việt Nam hoàn toàn không làm được", ông Quốc dẫn chứng câu chuyện nhập khẩu giống của Việt Nam.

Đầu ra: xuất thô, phụ thuộc...

Tại hội nghị tổng kết ngành nông nghiệp năm 2014 và triển khai kế hoạch năm 2015, lãnh đạo ngành nông nghiệp vui mừng nhấn mạnh rằng: "Năm 2014 có thể nói là năm ngành nông nghiệp được mùa, được giá". Không chỉ năm 2014, suốt nhiều năm ròng, Việt Nam tự hào khi nhiều mặt hàng nông sản như gạo, điều, cà phê, cao su... là những người khổng lồ vì có thành tích xuất khẩu hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, thực tế, chúng lại có "đôi chân đất sét" vì quá yếu về chất lượng khi chủ yếu là xuất thô, thương hiệu, uy tín, giá trị gia tăng mang lại thấp và bị phụ thuộc.

Đơn cử như gạo, nhiều năm liền Việt Nam là một trong những nước đứng hàng đầu thế giới về sản lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, ở nhiều thời điểm, giá gạo xuất khẩu lại có khoảng cách khá xa so với mặt bằng giá gạo thế giới và trở thành nguồn cung cấp rẻ nhất.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam dao động trong khoảng từ 400 USD đến 450 USD/tấn, tùy loại, thường kém gạo cùng phẩm cấp của Ấn Ðộ, Thái-lan, Pakistan từ 50 USD đến 75 USD/tấn. Thậm chí, vào thời điểm giữa năm 2013, giá gạo 5% tấm của nước ta đã rơi xuống đáy khi phải chào bán với giá 365 USD/tấn. Bởi vậy, dù giữ vị trí cao về sản lượng gạo xuất khẩu hằng năm nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu lại không tương xứng.

Hiện nay, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản như gạo, cao su, sắn... lớn nhất của Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại chỉ rõ, nông sản Việt Nam đã rơi vào điều tối kỵ khi bỏ trứng vào một giỏ, lệ thuộc vào một thị trường là Trung Quốc.

Ông phân tích, các thương lái Trung Quốc sẵn sàng mua sản phẩm thô của Việt Nam về tái chế, chế biến để nâng cao giá trị rồi kiếm lời. Gạo Việt Nam nhiều, Trung Quốc có nhu cầu, doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam cứ thế mang đi bán, không thiết lập được chuỗi giá trị, thiết lập được bạn hàng chiến lược.

"Tương tự, cao su, cà phê... cũng đều ở dạng sơ chế nên chỉ còn cách bán đổ bán tháo cho thị trường Trung Quốc, vốn dễ tính và có sức mua lớn", PGS TS Nguyễn Văn Nam nói.

Theo ông Nam, khi đã nắm thị phần cao, gần như độc quyền tiêu thụ doanh nghiệp TrungQuốc sẽ hạ giá sản phẩm, đặt điều kiện cho Việt Nam và lúc ấy họ được quyền kén cá chọn canh, không mua thì chúng ta chết.

Còn chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Vũ Trọng Khải thẳng thắn, nông nghiệp Việt Nam hiện nay không thể xuât cho ai ngoài Trung Quốc.

"Một nền nông nghiệp không được đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm là một nền nông nghiệp đầu độc cả dân tộc một cách hợp pháp thì không có nước nào dám mua sản phẩm của nền nông nghiệp ấy. Hàng ngày chúng ta đều buộc phải ăn chất độc.

Một nền nông nghiệp mà nông dân sản xuất một cách manh mún và tùy tiện, công nghiệp chế biến nông phẩm lạc hậu, doanh nghiệp làm ăn chộp giật, chỉ biết lợi ích trước mắt, không tạo dựng được liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thì tất nhiên điều đó phải xảy ra", ông nói.

"Có người từng hỏi, Bộ Nông nghiệp có thể đa dạng hóa thị trường để giảm xuất khẩu sang Trung Quốc được không? Câu trả lời có thể khẳng định là không, Việt Nam không thể xuất cho ai ngoài Trung Quốc với nền nông nghiệp hiện nay".

Nông dân khóc

Hệ quả của một nền nông nghiệp được coi là "người khổng lồ" nhưng "chân đất sét" là số phận của người nông dân hết sức bấp bênh. Còn nhớ, tại hội nghị sơ kết 5 năm triển khai Nghị quyết TƯ 7, khoá 10 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân vào cuối năm 2013, nhiều đại biểu trăn trở, thu nhập của nông dân có tăng lên nhưng họ phải gánh chịu nhiều rủi ro trong sản xuất, dẫn tới việc chán ruộng, bỏ rộng diễn ra ở nhiều nơi...

Nông dân bỏ ruộng, chán ruộng là vấn đề đáng báo động. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, trong năm 2012 - 2013, cả nước đã có 42.785 hộ bỏ không đất canh tác với trên 6.882 ha, có trên 3.407 hộ trả ruộng.

Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Cường khi ấy dẫn một vài con số khảo sát, trong điều kiện mưa thuận gió hòa, một sào ruộng (360 m2) trồng lúa cho thu khoảng 1,3 triệu đồng/vụ, chi phí đầu tư đã mất trên dưới 1 triệu, tính ra mỗi vụ kéo dài khoảng 3 tháng, nông dân chỉ lãi từ 100.000 - 200.000 đồng. 

“Nếu chuyển qua chạy xe ôm, lên thành phố làm ô sin, phụ hồ một ngày đã được kiếm được ngần ấy tiền. Thu nhập làm ruộng cả năm thua cả lương ô sin 1 tháng, hiệu quả và giá trị lao động thấp như thế thì bỏ ruộng, trả ruộng là điều bình thường. Nhưng bất bình thường ở chỗ làm ruộng là nghề gia truyền, ruộng đất là nguồn sống của nông dân từ bao đời nay nhưng nông dân đang chán ruộng, bỏ ruộng ồ ạt là vấn đề báo động”, ông Cường nói.

GS.TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, nhận định: “Nông dân được hưởng lợi ít nhất trong chuỗi sản xuất - phân phối và kể cả trong mối liên kết nông dân - doanh nghiệp  là một sự bất công. Người nông dân đầu tư tiền bạc, một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, chăm bẵm đồng ruộng lẽ ra phải được trả công xứng đáng thì trên thực tế lại đang bị thua thiệt trong khi phần lợi lớn nhất lại thuộc về các doanh nghiệp, thương lái, giá nông sản đội lên thì đổ hết lên đầu người tiêu dùng”.

"Việt Nam không thể mãi tự hào về 25 năm xuất khẩu gạo được nữa. 25 năm mà người dân vẫn không đủ sống, vẫn phải bỏ ruộng thì chứng tỏ nông nghiệp Việt đã hết động lực phát triển. Thành tích giời bể gì nhưng nông dân trả ruộng, thanh niên bỏ ra thành thị là không thể chấp nhận được. Vấn đề của nông nghiệp Việt Nam hiện nay là vấn đề của thời kỳ hội nhập, thời kỳ của chất lượng, hiệu quả. Chính vì thế mới cần tái cấu trúc nông nghiệp", TS Lê Hưng Quốc nói thẳng.

Thành Luân

Thứ Ba, 06/01/2015 07:01

Sự Kiện