Thu hút FDI thời kỳ mới: Dọn tổ đón đại bàng…

(Thị trường) - PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương bày tỏ quan điểm về việc thu hút FDI theo kiểu “may đo” hay “may sẵn”.

Phép so sánh buồn và câu hỏi cần được trả lời

PV:  - Mới đây, khi bàn về câu chuyện thu hút FDI trong thời kỳ mới, chuyên gia kinh tế Nguyễn Đình Cung đã nêu quan điểm, thu hút FDI không thể theo lối “may sẵn” như trước đây, mà phải theo lối “may đo” với từng gói cụ thể. Theo quan điểm này, thay vì đua nhau chào đón dự án, phải có chiến lược kêu gọi nhà đầu tư, dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương, không thể có một chính sách mà sử dụng cho tất cả các tỉnh, thành phố được.

Muốn vậy, trước tiên phải xác định được thu hút đầu tư có chất lượng là gì, từ đó mới đưa ra các tiêu chí sàng lọc, thể hiện qua chính sách.

Ông chia sẻ thế nào về quan điểm thu hút FDI này? Đây có phải là quan điểm mới không, và trong thời kỳ hiện nay, tại sao yêu cầu thay đổi tư duy về thu hút FDI lại quan trọng như vậy?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Thực ra đây chỉ là một cách nói mới, dùng từ mới  mang tính hấp dẫn hơn cho vấn đề đã được đặt ra từ nhiều năm nay. Đó là việc khi nhận đầu tư, Việt Nam phải xem xét cẩn thận, coi trọng chất lượng, các vấn đề về môi trường, xã hội, phù hợp với từng địa phương.

Cách đây mấy chục năm, Việt Nam còn nghèo và bắt đầu mở cửa, chúng ta đón nhận tất cả các nhà đầu tư nước ngoài, dù lớn bé thế nào, đầu tư vào lĩnh vực gì. Thậm chí các địa phương còn vẽ ra ưu đãi riêng, ngoài chính sách chung của Nhà nước, để hút được FDI càng nhiều càng tốt.

Vậy nên mới có tình trạng nhiều địa phương thu hút dự án FDI vào, nhận được những lời hứa hẹn, nhưng đăng ký xong họ để đắp chiếu bao năm không làm. Thậm chí một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sự chào đón của các cơ quan, cán bộ xúc tiến, lấy tài trợ của các đơn vị này đi du lịch hết tỉnh nọ đến tỉnh kia rồi hứa hẹn, sau cùng là… mất hút.

Đó là một số chuyện đã xảy ra trước đây, còn bây giờ phải khẳng định rằng Việt Nam vẫn rất cần vốn FDI, nhưng dường như lại thiếu định hướng rõ ràng.

Chẳng hạn, định hướng đầu tiên ai cũng biết là đầu tư để khai thác tiềm năng của địa phương, nhưng tiềm năng của địa phương là gì? Ngoài nguồn lao động giá rẻ ai cũng dễ nhìn thấy, thì người trong cuộc đôi khi cũng không nắm rõ vì chưa có kinh nghiệm, kiến thức. Chỉ có những doanh nghiệp nước ngoài đã phát triển các ngành nghề trong lĩnh vực ấy, khi đến tìm hiểu đầu tư, mới nhìn rõ tiềm năng ấy ở đâu, như thế nào.
Một định hướng tiếp theo là đầu tư để tác động vào nền kinh tế địa phương, đưa nền kinh tế ấy phát triển. Thế nhưng thực tế đây lại là phần các địa phương kém nhất. Đầu tư FDI vào Việt Nam mới chỉ tạo được chút công ăn việc làm, còn tác động thúc đẩy các doanh nghiệp, các ngành kinh tế của địa phương phát triển lại rất ít.

Thu hut FDI thoi ky moi: Don to don dai bang…
PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại

Thử làm một phép so sánh: Trung Quốc cũng có 30 năm mở cửa như Việt Nam nhưng họ làm rất tốt điều này. Trung Quốc nhận đầu tư của các doanh nghiệp ô tô Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ…  cuối cùng họ có được ngành ô tô cạnh tranh lại với chính ô tô của các doanh nghiệp ngoại.

Trung Quốc mở cửa thu hút đầu tư vào công nghiệp điện tử và giờ họ có nền công nghiệp điện tử lớn mạnh, cạnh tranh thắng cả các nhà đầu tư ngoại, ngay cả Mỹ cũng phải e ngại công nghệ 5G của Trung Quốc, các nước châu Âu thì mong muốn hợp tác.

Còn với Việt Nam, có thể thấy tác động lan tỏa của FDI đối với doanh nghiệp và các ngành công nghiệp trong nước rất ít ỏi. Doanh nghiệp ô tô nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, ngoài hai doanh nghiệp ô tô tư nhân là Vinfast và Thaco đang có tên tuổi, còn lại các doanh nghiệp quốc doanh nổi đình đám trước đây không còn bóng dáng, doanh nghiệp nhỏ thì đóng cửa, bán mặt bằng.

Đến sản xuất hàng thông thường, nhiều doanh nghiệp Việt còn nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về rồi đổi mác, thậm chí có doanh nghiệp Việt còn đặt hàng cho Trung Quốc gia công, gắn mác Việt Nam ngay từ bên đó, hệ quả là hải quan phát hiện hàng nhập khẩu từ Trung Quốc về nhưng lại gắn sẵn mác “Made in Vietnam”.

Như vậy, có thể thấy, từ khi Việt Nam mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài đã có nhiều thành tựu tiến bộ, nhưng cái lợi chưa hẳn đã nhiều. Chỉ riêng về thành tích xuất khẩu, dù thành tích xuất khẩu của FDI được tính vào GDP Việt Nam nhưng hàm lượng giá trị gia tăng trong giá trị xuất khẩu mà Việt Nam được hưởng cực thấp, khi chúng ta chủ yếu chỉ gia công, lắp ráp. FDI mượn Việt Nam và xuất xứ của Việt Nam để xuất khẩu sang nước thứ ba, sang chính nước chủ sở hữu FDI hoặc để bán hàng ngay tại thị trường Việt Nam. Họ lợi nhiều nhờ được hưởng ưu đãi, chi phí nhân công rẻ, còn phần giá trị gia tăng Việt Nam nhận được rất ít.

Bây giờ, thế giới có một xu hướng mới, đó là các quốc gia như Mỹ, EU, Nhật Bản…  muốn xây dựng lại chuỗi giá trị toàn cầu, không phụ thuộc vào công xưởng thế giới là Trung Quốc nữa để tránh rủi ro khi công xưởng này gặp sự cố hay khủng hoảng thì cả thế giới lao đao. Trong bối cảnh đó, Việt Nam có cơ hội trở thành điểm đến của các nhà đầu tư lớn đến từ các quốc gia nói trên, nhưng làm thế nào để chúng ta khắc phục được những hạn chế của những năm trước đây và phát huy được lợi thế? Đó là câu hỏi mà các nhà làm chính sách ở Trung ương và các địa phương phải trả lời.                                

PV: - Phải chăng để thu hút FDI chất lượng cao trong thời kỳ mới, chiến lược phát triển của Việt Nam phải xác định được những lĩnh vực cần ưu tiên, và các địa phương phải thấy rõ những ngành hàng, sản phẩm để phát huy tốt nhất lợi thế của địa phương mình, đồng thời có khả năng liên kết theo vùng kinh tế?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Ở đây vẫn là câu chuyện đã nói từ nhiều năm nay: chính sách chung là như thế, phải vận dụng thế nào cho sát với tình hình từng địa phương để từ đó xây dựng chiến lược, quy hoạch cho rõ ràng, không phải ai chào hàng cũng nhận để rồi cuối cùng nền kinh tế trở thành chiếc áo vá mà không phải là một nền kinh tế có mũi nhọn, có trung tâm, có định hướng phát triển rõ ràng.

Trong giai đoạn thu hút đầu tư nước ngoài trước đây, nếu nhìn 63 tỉnh thành trên cả nước thì chỉ có một số địa phương thành công. Lần này, đứng trước trào lưu mới, cơ hội mới, việc thu hút FDI một lần nữa được đặt ra và các chuyên gia đã đưa ra nhiều quan điểm, trong đó lưu ý phải “may đo” chứ không phải “may sẵn”. Quan điểm đó là đúng, nhưng cần phải giải thích cho rõ: ngoài chính sách chung thì từng địa phương thế nào?

Về mặt chính sách, Việt Nam là nền kinh tế quy mô nhỏ nên chính sách bao giờ cũng phải là chính sách chung của quốc gia, không phải mỗi tỉnh có một chính sách riêng. Điều này khác với nhiều nước trên thế giới. Khi chúng tôi đi khảo sát một số nước phát triển, như Canada hay một số nước châu Âu, họ có chính sách chung nhưng mỗi bang cũng có chính sách của riêng họ.

Với Việt Nam, phải xác định chính sách chung là cái gì để đảm bảo phù hợp với đại bộ phận các địa phương và buộc các địa phương phải thực hiện? Việc này phải tính cho đúng, cho kỹ càng, không thể đưa ra một cái chung nhưng tỉnh này đúng, tỉnh kia sai, khi ấy chính sách chung sẽ có những tác dụng phụ nguy hiểm.

Ngoài chính sách chung ấy, phải mở quyền cho địa phương được vận dụng và sáng tạo: quyền nào giao cho địa phương tự quyết, quyền nào địa phương phải báo cáo xem Trung ương có đồng ý không? Chẳng hạn, trong sự sáng tạo của địa phương có những sáng tạo hoàn toàn mới thì địa phương phải xin phép Trung ương được thí điểm. Việc này xưa nay các địa phương vẫn làm. Chính sự vận dụng này giúp cho chính sách chung trở nên phù hợp hơn với mỗi địa phương và nền kinh tế vừa đảm bảo tập trung vừa mở rộng dân chủ.

Từng tỉnh thành phải có trách nhiệm vận dụng, thực hiện chính sách chung ở địa phương mình thế nào cho tốt nhất. Do đó, phải nghĩ chiến lược phát triển kinh tế ở địa phương mình là gì, làm cái gì, mở bằng cách nào để thu hút được đầu tư nào vào địa phương mình, chứ không thể cái gì cũng làm, ai đưa cái gì đến cũng nhận hết, kể cả vốn manh mún, nhỏ lẻ, để cuối cùng không phát huy được tiềm năng của địa phương. “May đo” chính là ở chỗ này và cần diễn giải cho các địa phương rõ, tuy nhiên cần lưu ý rằng không được phá vỡ chính sách chung của đất nước.

Đối với quốc gia thì phải lưu ý xem đối tác của mình là ai. Có những đối tác có truyền thống, bản sắc riêng của họ, không nên bắt họ phải theo các đối tác khác. Tùy theo đối tác mà ta có những chính sách phù hợp.

Có hai loại đối tác: Thứ nhất là các quốc gia mà chúng ta xác định chính sách đầu tư của họ trong sáng, lành mạnh và thân thiện. Theo đó, chính sách của ta với những quốc gia ấy phải khác. Mặt khác, ai cũng biết rằng kinh tế chỉ là công cụ, còn có nhiều mục đích khác về chính trị, ngoại giao, an ninh... khó biết hết được. Cho nên, với những quốc gia mà chúng ta xác định đằng sau mục đích đầu tư còn có những ý đồ sâu xa khác, như tìm cách lấn át, bóp méo nền kinh tế Việt Nam theo ý đồ của họ thì phải kiên quyết từ chối.

Những người quản lý, làm nhiệm vụ xét duyệt dự án phải thấm nhuần điều này để không vì vài lời đường mật hay chút quà mua chuộc, đút lót mà bỏ qua những vấn đề sâu sắc bên trong.

Bên cạnh đó, trong hợp đồng phải ràng buộc rõ ràng. Luật pháp Việt Nam không phân biệt đối xử với bất kỳ nhà đầu tư nào, nhưng phải có ràng buộc để tránh đầu tư nửa vời, để dự án chình ình đắp chiếu nhiều năm. Việt Nam đã có nhiều bài học về chuyện này, từ đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông đến các dự án công nghiệp như Gang thép Thái Nguyên II...  mà không thể kiện hay đòi bồi thường được vì lỗi là ở ta.

Thứ hai, với đối tác là doanh nghiệp, có doanh nghiệp làm ăn thật, nhưng cũng không thiếu doanh nghiệp a dua, phong trào, đánh quả một chuyến. Chúng ta đã thấy nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào dệt may, da giày ở Việt Nam với số vốn li ti, khi không kiếm lợi được gì nữa thì chạy mất.

Bất kỳ quốc gia nào khi thu hút đầu tư nước ngoài cũng phải hướng tới những công ty lớn, công ty đa quốc gia vì họ đã làm là làm thật và có lực để làm.

Cách đây 20 năm, khi tôi sang Trung Quốc, người Trung Quốc đã rất tự hào khi họ đã kêu gọi được đầu tư từ hơn 90% các công ty đa quốc gia lớn nhất trên thế giới. Chính những công ty ấy - những công ty có tiềm lực kinh tế lớn mạnh, công nghệ hiện đại, quản lý tiên tiến mới đáng để chào đón, còn những doanh nghiệp mới nổi, làm ăn chộp giật, đến vì chính họ thì tốt nhất nên từ chối.

Cho nên, một lần nữa tôi cho rằng Việt Nam “dọn tổ, đón đại bàng” là phải đón những công ty đa quốc gia, mà nhiều khi sức mạnh của họ còn hơn cả một quốc gia. Các công ty này có chính sách toàn cầu, và như vậy chính sách của Việt Nam cũng phải phù hợp với họ, không thể may đo một chiếc áo tủn mủn như những doanh nghiệp li ti.

Nói như vậy nhưng thực tế thời gian qua chúng ta liên tiếp chứng kiến những dự án li ti của nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Tình trạng ấy thường xảy ra ở các địa phương khát đầu tư, lớn bé thế nào đều long trọng mở cửa, thậm chí nhiều khi mở hơi quá. Nhiều địa phương đã bị lừa đau đớn bởi các doanh nghiệp nhỏ, làm ăn chộp giật này.

Thu hut FDI thoi ky moi: Don to don dai bang…
Thu hút FDI không thể theo lối “may sẵn” như trước đây, mà phải theo lối “may đo” với từng gói cụ thể

“May đo” thế nào?

PV: - Trở lại quan điểm thu hút FDI theo kiểu “may sẵn” hay “may đo”, thưa ông, có phải điều quan trọng là chỉ cần một chiếc áo đẹp và vừa vặn với nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế từng vùng, từng địa phương nói riêng? 

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Về chiếc áo cho kinh tế Việt Nam, đương nhiên chiếc khung chính sách của Việt Nam phải rõ ràng, cởi mở, công khai, minh bạch, tính chất ràng buộc, trách nhiệm đôi bên ra sao... phải phù hợp với luật lệ quốc gia và quốc tế.

Hiển nhiên là chiếc khung ấy không thể hợp với mọi đối tượng, cho nên khi vận dụng cụ thể phải chú ý đối tượng nào. Nếu doanh nghiệp lớn Việt Nam cần thu hút đầu tư thì chiếc áo ấy cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với họ, nhưng không thể vượt khuôn khổ, luật lệ quốc tế.

Cần lưu ý rằng, những nhà đầu tư nhỏ lẻ chỉ quan tâm kiếm được nhiều hay ít, họ đến rồi đi có khi chỉ sau 1-2 năm, cùng lắm là 5 năm sau khi đã kiếm được lợi. Còn doanh nghiệp lớn nghĩ đến con đường phát triển lâu dài, 5-10 năm, thậm chí 20 năm, họ muốn Việt Nam thành một cứ điểm sản xuất toàn cầu của mình. Như vậy, lợi ích trước mắt không phải là cái mà các doanh nghiệp lớn quan tâm hàng đầu, họ quan tâm đến môi trường phát triển, hành xử của ta có tuân thủ luật pháp, chính sách của Việt Nam có ổn định không...

Tóm lại, chiếc áo của Việt Nam không chỉ vừa với nền kinh tế Việt Nam mà phải phù hợp với đối tác và quan trọng là phải chọn đối tác, không phải cứ khát, thấy nước là uống không biết là bẩn hay sạch.

Với các địa phương cũng vậy, “dọn ổ” đón đầu tư thì về mặt bằng không phải là chiếc ổ nhỏ lẻ vài chục hecta mà phải là hàng trăm hecta để doanh nghiệp lớn đến phát triển được. Còn chính sách thì phải hướng vào doanh nghiệp lớn, làm ăn nghiêm túc, đem lại tác động lan tỏa đến doanh nghiệp, khoa học công nghệ, các ngành kinh tế của địa phương, kích thích chúng phát triển.

PV: - Khi thu hút FDI theo cách mới, theo ông, Việt Nam cần lường trước cái giá mà nền kinh tế phải trả ra sao? Đây có phải là thời điểm phù hợp để Việt Nam thực hiện cuộc cải tổ này không?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Tôi nghĩ dùng từ “trả giá” có phần dân dã và chưa chính xác, mà ở đây là hướng cho chúng ta con đường phát triển. Cần xác định rằng, khi Việt Nam muốn đón các nhà đầu tư mang tính chiến lược thì chính sách của ta cũng phải mang tính chiến lược. Không phải chính sách tính từng năm hay 5 năm đổ lại, mà phải là chính sách dài hơi, 10-15 năm, thậm chí 25 năm. 

Thứ hai, đã “chơi” với doanh nghiệp lớn thì ứng xử, làm ăn cũng phải đàng hoàng, bỏ tư duy nhiệm kỳ. Mỗi cán bộ quản lý phải thấy được nhu cầu phát triển của địa phương, của đất nước trong 10 năm, 15 năm hay lâu hơn nữa, chứ không phải chỉ một nhiệm kỳ để rồi thu vén lợi lộc cho bản thân được càng nhiều càng tốt.

Tất nhiên, chuyện lâu dài này không chỉ một người, một địa phương nghĩ ra được mà tập thể phải ngồi bàn với nhau cho rõ ràng, được cán bộ, nhân dân đồng tình.

Thứ ba, cần xác định rằng không thể nóng vội được, thời gian đầu tư càng dài thì phải có chính sách, cơ chế để hỗ trợ nhà đầu tư, để dự án được tiến hành thuận lợi, không thể mỗi nhiệm kỳ, mỗi đời cán bộ quản lý lại có một chính sách khác nhau.

Tóm lại, khi đã xác định thu hút đầu tư thì không thể bóc ngắn cắn dài, chính sách ngắn hạn phải phù hợp với dài hạn. Những cái này rất quan trọng, nó không phụ thuộc vào ông cán bộ A hay ông cán bộ B mà là chính sách chung của địa phương, của đất nước, ai cũng phải làm theo.

Nhìn lại mấy chục năm mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài, thành tích của Việt Nam là có nhưng nó vẫn chưa tương xứng với tiềm lực, cơ hội của nước ta. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều năm, nếu 25 năm tới đây lại bỏ lỡ thì Việt Nam khó tiến lên được.

Thành Luân

Thứ Sáu, 11/09/2020 19:23

Sự Kiện