Việt Nam nhập than Trung Quốc giá cao: Đúng đấy!

(Thị trường) - PGS.TS Trương Duy Nghĩa chỉ ra lý do khiến giá than nhập khẩu từ Trung Quốc đắt gấp nhiều lần so với than nhập từ nước khác.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trong tháng 7, lượng than đá nhập khẩu của Việt Nam đạt gần 4,4 triệu tấn, giá nhập khẩu than về nước khoảng 1,4 triệu đồng/tấn. Lũy kế 7 tháng đầu năm, lượng than nhập khẩu về Việt Nam đạt gần 36 triệu tấn, kim ngạch 2,5 tỷ USD.

Sản lượng than nhập khẩu về Việt Nam ước tăng hơn 46% so với cùng kỳ năm trước, đơn giá bình quân đạt 1,6 triệu đồng/tấn.

Các thị trường Việt Nam nhập than nhiều nhất là Úc, Indonesia, Nga, Trung Quốc. Riêng than nhập từ Trung Quốc về Việt Nam dù ít, khoảng 140.000 tấn, nhưng giá lại rất cao, khoảng 6,2 triệu đồng/tấn, gấp khoảng 3 lần so với giá mua bình quân của các nước khác và giá trên thị trường.

Ví dụ, than từ Úc được nhập về nhiều nhất trong 7 tháng qua với 12 triệu tấn, kim ngạch 1,02 tỷ USD, giá bình quân đạt gần 2 triệu đồng/tấn.

Than Indonesia trong 7 tháng nhập về 11,2 triệu tấn, kim ngạch hơn 540 triệu USD, giá bình quân đạt hơn 1,1 triệu đồng/tấn. Cùng khoảng thời gian trên, Việt Nam nhập 4,9 triệu tấn than từ Nga, kim ngạch đạt 393 triệu USD, giá bình quân 1,85 triệu đồng/tấn.

Trao đổi với Đất Việt, PGS.TS Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Nhiệt Việt Nam cho biết, mức giá than nhập khẩu từ Trung Quốc đắt hơn nhiều lần so với than nhập từ các quốc gia khác là đúng vì loại than Việt Nam nhập chủ yếu từ Trung Quốc là than cốc. 

Đây là loại than được chế biến từ than nguyên khai để luyện kim, do đó, chất lượng loại than này cao hơn nhiều.

Đây cũng là chủng loại than trong nước sản xuất rất hạn chế, không đủ để cung cấp.  Thống kê cho thấy, ngành than phải nhập khẩu than cốc để phục vụ sản xuất gang với khối lượng 4-7 triệu tấn/năm. Trong những năm tới, khi nhu cầu cho sản xuất gang tăng cao, cần thiết phải tìm thị trường để nhập khẩu lâu dài.

Viet Nam nhap than Trung Quoc gia cao: Dung day!
Giá than nhập khẩu từ Trung Quốc cao gấp nhiều lần so với giá than nhập từ các quốc gia khác. Ảnh minh họa: Reuters

Đối với than nhập khẩu từ các quốc gia như Indonesia, Úc, Nga..., theo Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Nhiệt Việt Nam, chủ yếu sử dụng cho nhà máy nhiệt điện.

Trong đó, than của Nga là than antraxit, Việt Nam nhập về trộn với than antraxit đang dùng trong các nhà máy điện ở ngoài Bắc.

Hiện một số nhà máy máy nhiệt điện sử dụng than pha trộn antraxit trong nước, than nhập khẩu như: An Khánh 1; Thái Bình 1 và 2; Hải Dương; Nam Định 1; An Khánh - Bắc Giang; Thăng Long; Vũng Áng 1; Nghi Sơn 1; Vĩnh Tân 1 và 2; Duyên Hải 1.

Than nhập khẩu từ Indonesia là than á bitum, từ Úc là than bitum. Đây là những loại than dễ cháy, thích hợp với việc đốt trong lò hơi nhà máy điện. Về nguyên lý, than càng dễ cháy, sử dụng cho nhà máy điện càng tốt hơn. Chất lượng than bitum cao hơn than á bitum nên than nhập từ Úc đắt hơn than nhập từ Indonesia là điều dễ hiểu. 

Theo PGS.TS Trương Duy Nghĩa, các nhà máy điện đốt than nhập khẩu như Duyên Hải 3, Vĩnh Tân 4 đốt 30% than bitum, 70% than á bitum.

Ngoài ra, nhiều nhà máy nhiệt điện khác cũng phải sử dụng 100% than bitum, á bitum nhập khẩu như: Hải Phòng 3; Quảng Ninh 3; Nghi Sơn 2; Vũng Áng 2 và 3; Vĩnh Tân 3; Duyên Hải 2; Vân Phong 1; Long Phú 1, 2 và 3; Sông Hậu 1 và 2; Long An 1 và 2...

Vị chuyên gia cũng lưu ý, đối với than nhập khẩu từ Nga, quãng đưỡng vận chuyển tương đương như từ Úc về Việt Nam nên chi phí vận chuyển cao hơn (như từ Úc về Vĩnh Tân mất chừng 7.000km). Còn với Indonesia, ngoài việc than á bitum bao giờ cũng rẻ hơn (tính theo đơn vị nhiệt lượng) thì quãng đường vận chuyển về Việt Nam chỉ tương đương như ngoài Bắc vào trong Nam.

Bộ Công Thương cho biết, nguồn nhiệt điện than tiếp tục chiếm tỷ trọng rất cao nên nhu cầu than cho sản xuất điện cung tăng nhanh từ năm 2020 - 2030.

Lượng than khai thác trong nước ngày càng khó khăn, chi phí tốn kém do phải khai thác dưới độ sâu dẫn đến hiệu quả không cao do đó, Việt Nam phải tăng cường nhập khẩu than với số lượng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà máy nhiệt điện.

Ước tính, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 25 triệu tấn vào năm 2020, khoảng 50 triệu tấn vào năm 2025 (trong đó, các nhà máy nhiệt điện BOT tự thu xếp khoảng 25 triệu tấn); khoảng 80 triệu tấn vào năm 2030 (trong đó các nhà máy nhiệt điện BOT tự thu xếp khoảng 40 triệu tấn) và khoảng 88 triệu tấn vào năm 2035 (trong đó, các nhà máy nhiệt điện BOT tự thu xếp khoảng 43 triệu tấn).

Mục tiêu lớn nhất của nhập khẩu than cho sản xuất nhiệt điện là đảm bảo được nguồn cung ổn định trong dài hạn (theo vòng đời nhà máy điện) với giá cạnh tranh.

Bởi vậy, để thực hiện mục tiêu này, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn cung; đầu tư chiếm lĩnh thị đảm bảo thị trường chắc chắn, ổn định; đồng thời áp dụng phương thức mua và định giá than phù hợp.

Thành Luân

Thứ Sáu, 14/08/2020 07:37

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện