Đại thắng mùa xuân 1975: Thời cơ ngàn năm có một...

(Bình luận quân sự) - Theo các nhà bình luận, từ cuối năm 1974, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã rất rệu rã, cả về tinh thần lẫn sức mạnh chiến đấu.

Sau Hiệp định Paris năm 1973, dẫn tới việc quân đội Mỹ rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam, tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate vào tháng 8 năm 1974.

Sự suy sụp này còn xuất phát từ những nguyên nhân như: Mỹ giảm dần viện trợ quân sự, tinh thần của binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa rất rệu rã, các mục tiêu tác chiến không thể hoàn thành như đã định, dẫn đến những thất bại liên tiếp trên chiến trường.

Mỹ giảm viện trợ, quân lực Việt Nam Cộng hòa suy yếu nghiêm trọng

Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa đã dần bị cắt giảm. Theo số liệu thống kê, năm tài khóa 1973 là 2,1 tỷ USD, sang năm 1974, lượng viện trợ quân sự chỉ còn 1,4 tỷ USD và dự kiến viện trợ năm 1975 chỉ là 700 triệu USD.

Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng trưởng Kế hoạch của chính phủ Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ, Giáo sư Warren Nutter là Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình "Việt Nam hóa" đã kể lại buổi điểm tâm với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu vào sáng ngày 23 tháng 8 năm 1974 tại Dinh Độc Lập.

Ông Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ: “Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 dollars và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài Gòn đi Tokyo”.

Ông Nutter cũng rất bối rối và giải thích rằng, Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm và Trung tâm Tư liệu Đông Dương (Indochina Resource Center) đang hết sức tìm cách tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa.

(Trung tâm tư liệu Đông Dương là một tổ chức nghiên cứu giáo dục tinh thần phản chiến có trụ sở tại Washington; do ông David Marr – cựu sĩ quan tình báo Thủy quân lục chiến Mỹ ở Việt Nam năm 1962 – 1963, khởi xướng thành lập vào năm 1972. Đến năm 1982, Indochina Resource Center sáp nhập vào Asia Research Center - Trung tâm nghiên cứu châu Á).

Nền kinh tế và chi tiêu của Việt Nam Cộng hòa duy trì được chủ yếu nhờ viện trợ Mỹ. Nền công nghiệp miền Nam nhỏ bé, nông nghiệp bị chiến tranh tàn phá; lạm phát phi mã xảy ra cùng với tệ tham nhũng, lợi dụng chức quyền càng làm cho nền kinh tế thêm tồi tệ.

Ông Bùi Diễm, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, đã từng nhận định tình hình kinh tế và quân sự của miền Nam Việt Nam đầu thập niên 70 đã trở nên rất xấu, khiến người dân không hài lòng với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tiền lương quân nhân không đủ sống do đó tình hình chính trị cũng xấu theo.

Dai thang mua xuan 1975: Thoi co ngan nam co mot...
 4/1975, Việt Nam đã giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước

Trong tập hồi ký “Mùa Xuân Đại Thắng”, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã viết, một trong những động cơ thúc đẩy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ, khiến cho lực lượng quân lực Việt Nam Cộng hòa vốn được tổ chức rập khuôn theo lối đánh tốn kém của Mỹ đã không thể có đủ tài chính để duy trì số lượng lớn vũ khí.

Theo các tài liệu lưu trữ, sau khi Mỹ giảm viện trợ quân sự, hỏa lực không quân của Việt Nam Cộng hòa đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng cơ động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ và nhiên liệu.

Trong khi quân đội Sài Gòn cần 3 tỉ dollars mỗi năm để duy trì bộ máy chiến tranh thì Hà Nội chỉ cần 10% con số đó để xây dựng một lực lượng quân sự đủ lớn để vừa giữ vững miền Bắc, vừa tăng cường quân đội chiến đấu ở miền Nam.

Sự rệu rã về yếu tố tinh thần

Mặc dù sức mạnh suy giảm nhưng quân số và vũ khí của Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn có những điểm mạnh khi có đến 1.351.000 quân, 383 xe tăng (162 M48A3, 221 M41) và 1.691 thiết giáp chở quân M-113.

Không quân của họ cũng vượt trội với 550 máy bay chiến đấu A-1H, A-37 và F-5; 23 phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1.000 trực thăng UH-1 và CH-47; khoảng 200 máy bay O1, O2 và U17; khoảng 150 máy bay vận tải C7, C-47, C-119 và C-130), 4 phi đội yểm trợ hỏa lực mặt đất, trang bị máy bay AC-119, AC-130 Spectre Gunship; các phi đội máy bay trinh sát, tình báo kỹ thuật, phi đội quan sát RC-119L.

Trong khi đó, Quân Giải phóng không thể triển khai lực lượng không quân ở miền Nam và lực lượng tăng thiết giáp cũng tương đối hạn chế. Ngay cả lực lượng bộ binh của quân Giải phóng cũng không thể đạt tới con số 1 triệu quân, kể cả ở thời điểm cao nhất.

Vậy tại sao mặc dù thực lực vẫn mạnh hơn nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn ở thế yếu hơn so với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam? Đó là do yếu tố con người. Sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa chủ yếu là do yếu tố tâm lý, khi tinh thần của binh lính xuống rất thấp, số lượng đào ngũ tăng mạnh.

Trong hồi ký của mình, Đại tướng Văn Tiến Dũng cho biết, sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam và bắt đầu cắt giảm viện trợ quân sự thì tinh thần và sức chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng hòa giảm sút rõ rệt.

Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12/1974 đã có 176.000 lính đào ngũ, rã ngũ, dù đã tăng cường thêm lính quân dịch thì tổng quân số vẫn giảm 20.000 người so với năm 1973.

Ngay cả trong những đơn vị tinh nhuệ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tỷ lệ đào ngũ cũng tăng lên mức rất cao; ví dụ như: Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55% mỗi năm), tiếp theo là các đơn vị Dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%).

Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh để cống hiến cho lý tưởng của mình là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Việt Nam. Đó chính là ưu thế quyết định của họ.

Bên cạnh đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiên trì công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước suốt 30 năm và không có lý do gì để từ bỏ nó khi mà quân đội của mình ngày càng hùng mạnh và có được lợi thế. Mọi người lính và chỉ huy quân Giải phóng đều cho rằng ngày chiến thắng đã cận kề, chỉ còn cách họ một trận đánh cuối cùng.

Sự tương phản giữa thế và lực giữa hai bên

Theo hồi ký của Đại tướng Văn Tiến Dũng thì cục diện chiến trường trước khi diễn ra Chiến dịch Mùa xuân năm 1975, đã chuyển biến theo hướng ngày càng bất lợi cho quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Tại Khu 9, các cuộc hành quân lấn chiếm bị thất bại, hơn 2.000 đồn bốt bị phá, 400 ấp chiến lược với gần 800.000 dân bị quân Giải phóng xóa bỏ; ở Khu 8 có hơn 200 ấp chiến lược với hơn 130.000 dân bị xóa bỏ; còn tại Khu 5, quân Giải phóng đã chuyển lên thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh (Nông Sơn, Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt), xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân.

Cuối năm 1974, quân Giải phóng chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng địa phương mở chiến dịch Đường 14 - Phước Long giành thắng lợi lớn.

Trong hơn 20 ngày, quân Giải phóng đã diệt và bắt trên 5.400 quân địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh Phước Long.

Thất bại này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân Sài Gòn, lực lượng chủ lực của Việt Nam Cộng hòa đã không còn đủ sức hành quân giải tỏa quy mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng trên các địa bàn giáp ranh, dù Phước Long chỉ cách Sài Gòn vẻn vẹn 50km.

Quan trọng hơn, chiến thắng Đường 14 - Phước Long đã cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam xác định rõ quan điểm về cuộc chiến tranh Việt Nam và khả năng tái can thiệp quân sự của Mỹ.

Bị ràng buộc bởi đạo luật "War power act" do Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1973 cấm tổng thống Hoa Kỳ sử dụng quân đội nếu không được sự chấp thuận của Quốc hội trước 6 tháng, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc chỉ có thể đưa ra những hành động hạn chế.

Bộ Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương điều động một lực lượng đặc nhiệm hải quân gồm tàu sân bay Enterprise, tuần dương hạm Long Beach, hai tàu khu trục và một số tàu hậu cần rời cảng Subic của Philippines tiến vào Biển Đông.

Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3 của Hải quân Hoa Kỳ đóng tại Okinawa cũng được đưa vào tình trạng báo động sẵn sàng chiến đấu.

Tuy nhiên, tất cả chỉ có vậy.

Ký giả Hoa Kỳ Alan Dawson nhận xét, khi Hoa Kỳ không thể tung quân trở lại miền Nam Việt Nam và chỉ hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng hòa bằng lời nói chứ không phải bằng hành động quân sự thì niềm vui tràn ngập ở Hà Nội. “Nó chính lại là một trong những chiếc đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài của quân đội Sài Gòn” – ông Alan Dawson nói.

Ngay sau thất bại Phước Long, cố vấn Mỹ John Pilger cũng đã tiên liệu trước về sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn sẽ diễn ra trong nay mai. Ông viết: “Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là ‘thủ đô tiêu dùng’ nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh”.

Hơn thế nữa, vị cố vấn Mỹ còn chua chát thừa nhận rằng, trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày. Vậy nên, sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn là một “thất bại được báo trước!”.

Thiên Nam

Thứ Ba, 28/04/2020 07:21

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện