Mỹ sợ tiêm kích Su-35 nhất trong 5 loại vũ khí Nga

(Bình luận quân sự) - Trong Top 5 vũ khí Nga đáng ngại nhất đối với Mỹ, tạp chí “The National” xếp tiêm kích đa năng thế hệ 4++ Su-35 ở vị trí đầu bảng.

Ngày 13-1, tạp chí Mỹ “The National” đã điểm danh 5 loại vũ khí Nga mà Mỹ e sợ nhất, bao gồm: Máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 Su-35 Flanker E, tàu ngầm thông thường Project 677 - lớp Lada, xe tăng chiến đấu chủ lực T-90, tên lửa chống hạm P-800 "Oniks" và ngư lôi chống hạm AST 53-65KE.

Tạp chí Mỹ cho biết, Nga đang đẩy mạnh phát triển trang thiết bị quân sự của mình trong bối cảnh mối quan hệ với phương Tây đang ngày càng căng thẳng, và Hoa Kỳ không nên đánh giá thấp một số vũ khí thông thường nhưng mạnh mẽ mà quân đội Nga sở hữu.

Nhà báo Dave Majumdar, chuyên viên về các vấn đề quân sự đã nhận xét trong bài viết trên tờ The National Interestlà Nga có những loại vũ khí thuộc dạng công nghệ đỉnh cao của thế giới và hiện nay Moscow đang nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài.

Ngoài tên lửa chống hạm P-800 "Oniks" và ngư lôi chống hạm AST 53-65KE, các loại vũ khí sau là những mối đe dọa hàng đầu đối với Mỹ.

1. Máy bay chiến đấu Su-35 Flanker E

Tờ tạp chí Mỹ nhận định, vị trí hàng đầu trong số các vũ khí Nga phải thuộc về loại máy bay tiêm kích đa năng thế hệ 4++ là Su-35 (theo phân loại của NATO là Flanker-E) do tập đoàn “Sukhoi” sản xuất. Đây là loại tiêm kích được đánh giá là mạnh nhất trong các dòng chiến đấu cơ thế hệ thứ 4 trên thế giới hiện nay.

Một trong những ưu điểm chính của máy bay chiến đấu Nga là sự kết hợp việc mở rộng khả năng đánh chặn tầm cao với vận tốc chớp nhoáng và động cơ độc đáo có sức kéo lớn và độ linh hoạt rất cao.

Những đặc điểm này trong tổng hòa kết cấu với hệ thống điện tử tiên tiến nhất và hệ thống vũ khí đa dạng với khối lượng mang tải lớn làm cho Su-35 trở thành đối thủ cực kỳ nguy hiểm trước các phi cơ chiến đấu của Mỹ - The National Interest đánh giá.

Nga có một số loại trang bị, vũ khí mà Mỹ không thể xem thường
Nga có một số loại trang bị, vũ khí mà Mỹ không thể xem thường

Su-35 là loại máy bay tiêm kích đa năng hạng nặng hàng đầu thế giới hiện nay. Trong thử nghiệm bay thử tầm thấp với vận tốc 1400km/h, tầm cao là 2500km/h, độ cao bay tối đa đạt 19km. Chiến đấu cơ này có tầm hoạt động 3.400 km và bán kính chiến đấu 1.200 km (chưa tính tiếp dầu trên không).

So với các loại máy bay thế hệ thứ 4, khoang lái và khoang vũ khí của Su-35 được phủ 2 lớp sơn đặc biệt, 1 lớp có khả năng dẫn diện, 1 lớp hấp thụ sóng radar làm giảm tối đa khả năng bộ lộ trước radar đối phương giúp máy bay có tính năng tàng hình tương đối tốt. 

Ngoài ra vòng đời của Su-35 cũng được kéo dài trên thêm gần 2000h so với các máy bay đồng hạng thế hệ thứ 4 (tổng cộng khoảng trên 7000h bay), thời gian phục vụ ít nhất là 30 năm (chưa tính đến khả năng nâng cấp kéo dài tuổi thọ).

Su-35 sử dụng động cơ phản lực Vector 117S (AL-41F-1S) thuộc thế hệ AL-41F, được thiết kế trên khung động cơ AL-31F nhưng trình độ công nghệ thì vượt trội so với thế hệ trước đó. Hiện các loại động cơ này đang được sử dụng trong nguyên mẫu bay thử của máy bay thế hệ thứ 5 PAK FA Sukhoi T-50.

Về tính kinh tế, AL-41F có lượng tiêu hao nhiên liệu giảm 8%, chu kỳ bảo dưỡng động cơ cũng tăng từ 1000h lên 4000h. Như vậy, nó có thể sử dụng trong 7000h bay, gần gấp đôi các loại động cơ cũ (4000h), kéo dài thời hạn sử dụng lên tới 10 năm so với các động cơ thế hệ cũ.

Về đặc tính kỹ thuật, lực đẩy của AL-41F-1S đạt 14.500 kg, vượt trội hơn rất nhiều so với AL-31FN (lực đẩy 12.500kg) đang sử dụng trên loại máy bay J-10 của Trung Quốc và cũng nhỉnh hơn AL-31F-M1 có lực đẩy 13.500kg, chuyên dụng cho Su-27SM, Su-27SM2, Su-33 và sau này là Su-34.

Kết cấu cực kỳ phức tạp của động cơ AL-41F-1S (117S)
Kết cấu cực kỳ phức tạp của động cơ phản lực vector AL-41F-1S (117S)

Chúng ta cần biết, trong chế tạo động cơ máy bay siêu âm, để lực đẩy tăng lên 1000kg đã là một bước tiến rất dài về công nghệ. Hiện trên thế giới có rất nhiều động cơ đạt mốc 10.000kg nhưng rất ít loại đạt đến tầm thế hệ Al-31F, chứ đừng nói là AL-41F. 

Về hệ thống radar, Su-35 sử dụng radar mảng pha thụ động (PESA) IRBIS-E, cự ly phát hiện máy bay thông thường lên tới 350km, tàu chiến cỡ lớn là 400km. Đặc biệt nó có khả năng phát hiện các loại máy bay tàng hình có bề mặt tán xạ radar dưới 3m ở khoảng cách xa 100 - 150 km.

Với mô hình thiết kế vừa sục sạo vừa theo dõi, Su-35 có thể cùng lúc bắt chết 30 mục tiêu và đồng loạt phóng 8 quả tên lửa dẫn đường bằng radar chủ động, để tấn công 8 mục tiêu khác nhau.

Nó được trang bị 12 điểm treo vũ khí và lượng bom đạn mang theo tối đa là 8 tấn, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tác chiến đa nhiệm trên không, mặt đất và chống hạm.

Ngoài hệ thống tên lửa không đối không chủ lực, Su-35 cũng được trang bị tất cả các loại vũ khí tối tân nhất của Nga, như tên lửa tấn công ngoài khu vực phòng không, tên lửa chống hạm, tên lửa chống radar, bom điều khiển chính xác và bom không điều khiển. Ngoài ra, nó còn được trang bị 1 khẩu pháo 30mm.

Đại diện công ty Sukhoi cho biết, trong quá trình nghiên cứu, chế tạo Su-35 họ đã áp dụng rất nhiều công nghệ của máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 nên Su-35 được coi là thế hệ 4++, tiệm cận với tính năng của máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 PAK FA Sukhoi T-50.

Máy bay chiến đấu thế hệ 4++ của Nga Su-35

Máy bay chiến đấu thế hệ 4++ Su-35 của Nga

Hiện trên thế giới không có loại máy bay thế hệ thứ 4 nào xứng đáng là đối thủ của Su-35, thậm chí là cả máy bay thế hệ thứ 5 cũng không thể vượt trội được so với nó trong không chiến.

Hai “sát thủ” Việt Nam trong top vũ khí Mỹ sợ nhất

2. Tàu ngầm Lada và phiên bản xuất khẩu Amur

Xếp thứ hai trong danh sách là tàu ngầm Lada thuộc Project 677, phiên bản xuất khẩu là "Amur". Tàu ngầm lớp này là phiên bản nâng cấp rất cao của tàu ngầm project 636 lớp Varshavyanka (NATO gọi là lớp Kilo). Hiện đang có rất nhiều nước quan tâm đến phiên bản xuất khẩu Amur-1650 của Nga.

Tàu ngầm Lada được đánh giá là loại tàu ngầm phi hạt nhân mạnh mẽ nhất thế giới hiện nay, nổi bật về thiết kế thân tàu đặc biệt đảm bảo mức độ tiếng ồn tối thiểu và hệ thống trang bị vũ khí mạnh cùng các thiết bị chuyên dụng mà trên lớp Kilo không có.

Tàu ngầm Lada có kích thước khá khiêm tốn, chỉ dài 66,8m, cao 7,1m với thủy thủ đoàn 34 người, được thiết kế theo kiểu Modul hóa và Serie hóa. Nhà chế tạo có thể căn cứ vào yêu cầu mà lắp ráp thành tàu ngầm với các tải trọng khác nhau như 550 tấn, 750 tấn, 950 tấn, 1.450 tấn, 1.650 tấn và 1.850 tấn.

Trong đó, loại từ 1.650 tấn trở lên có thể lắp thêm khoang chứa tên lửa phóng theo chiều thẳng đứng và hệ thống động lực không phụ thuộc vào không khí (AIP) Kristall-27EP, hoạt động không cần nguồn cấp ô-xy từ bên ngoài, khiến nó ít phải nổi lên lấy dưỡng khí.

Nhờ loại động cơ tiên tiến này, tàu ngầm Lada có thể lặn liên tục dưới nước trong 45 ngày (với tốc độ tối đa khi lặn lên tới 39 km/h), gấp ba lần những tàu ngầm diesel thế hệ trước của Nga, nhờ đó nâng tầm di chuyển khi lặn liên tục của tàu lên tới 1.200 km, vượt hơn tàu ngầm Kilo tới 2 lần.

Tàu ngầm Lada thuộc Project 677 của Nga
Tàu ngầm Lada thuộc Project 677 của Nga

Tàu ngầm lớp Lada áp dụng công nghệ vỏ một lớp, giúp giảm lượng giãn nước so với loại tàu ngầm cùng kích thước. Đây là nhân tố hết sức quan trọng, vì nó giúp tàu ngầm trở nên nhỏ hơn, linh hoạt hơn, đặc biệt là trong tác chiến ở vùng biển nông hoặc tác chiến gần bờ biển.

Với kích thước nhỏ, cùng với việc được phủ một lớp bọc ngoài giảm phản xạ sóng âm hoàn toàn mới có tên” Molniya” (“tia chớp”) và chân vịt xoắn 7 cánh, động cơ AIP giảm tiếng ồn, tàu ngầm Lada có tính năng “tàng hình” tốt hơn Kilo, vốn được NATO mệnh danh là “Lỗ đen” của đại dương.

Trang bị vũ khí cơ bản của Amur-1650 vẫn là 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm với cơ số dự trữ 18 quả, có khả năng phóng cả loại ngư lôi siêu khoang VA-111 Shkval, ngưn lôi chống ngầm/chống hạm AST 53-65KE, ngư lôi chống hạm TEST 71. Ngư lôi có thể bắn trong 15 giây và bắn loạt tiếp theo sau hai phút.

Thiết kế cơ bản của Amur-1650 với 10 ống phóng tên lửa thẳng đứng, có khả năng phóng loạt nhiều tên lửa vào nhiều mục tiêu khác nhau, sử dụng tên lửa Novator Club-S phiên bản chống hạm 3M-54E1 hoặc BrahMos, phiên bản tấn công mặt đất 3M-14E...

Tàu ngầm lớp Lada được lắp đặt các trang thiết bị hiện đại, tự động hóa, thông tin dữ liệu được trao đổi và chia sẻ trong toàn bộ con tàu. Việc này không chỉ giúp rút ngắn thời gian ra mệnh lệnh, mà còn giảm thiểu nhân lực. Ngoài ra, tàu còn được trang bị hệ thống bảo đảm sinh tồn thế hệ mới.

Điểm đặc biệt là tàu ngầm lớp Lada còn được trang bị cảm biến thủy âm loại mảng kéo ở phía đuôi (towed array sonar) rất hiện đại, giúp xóa bỏ vùng mù đối với thiết bị cảm biến thủy âm, tăng khả năng cũng như cự li phát hiện kẻ địch. Loại thiết bị này chỉ có trên tàu ngầm Lada, không được trang bị trên Kilo.

Phiên bản xuất khẩu Amur-1650 của Nga hiện được rất nhiều nước quan tâm
Phiên bản xuất khẩu Amur-1650 của Nga hiện được rất nhiều nước quan tâm

3. Xe tăng chiến đấu chủ lực T-90 của Nga

Đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, để tìm kiếm những đơn đặt hàng mới và vực dậy ảnh hưởng quân sự đang dần suy yếu trên trường quốc tế, Nga đã kết hợp những tính năng ưu việt nhất của 2 loại xe tăng lừng danh dưới thời Xô-viết là T-72 và T-80 để chế tạo ra loại xe tăng chiến đấu chủ lực thế hệ mới T-90.

T-90 do phòng thiết kế Kartsev-Venediktov tại Vagonka ở Nizhniy Tagil nghiên cứu, phát triển, được quân đội Nga đưa vào biên chế từ năm 1995. Xe tăng T-90 có những hệ thống điều khiển hỏa lực, phương tiện quan sát, thông tin liên lạc và điều hướng tiên tiến kết hợp với hệ thống bảo vệ hữu hiệu.

Xe tăng T-90 có khối lượng 46,5 tấn, dài 9,53m, rộng 3,78m, cao 2,22m. Điểm đặc biệt của xe tăng T-90 là mật độ phối trí cao, và có kích thước nhỏ nhất so với xe tăng hiện đại thế giới, toàn xe có thể tích bọc thép chỉ 13m3.

Việc thu gọn thể tích bên trong, sử dụng hệ thống nạp đạn tự động và áp dụng một loạt các phát minh mới về kết cấu, làm giảm không gian dư thừa, tăng độ dày của giáp, giúp xe tăng được bảo vệ tốt hơn.

Xét về hệ thống động lực, T-90 được trang bị động cơ V-96 1.100 mã lực cho phép đạt tốc độ 60-65km/h trên đường quốc lộ và 35-45km/h khi hành quân việt dã.

Về tính cơ động, T-90 dù kém hơn về công suất động cơ so với loại xe tăng M1 Abrams của Mỹ, nhưng nhẹ hơn về khối lượng, nên tỉ suất không hề thua kém M1 Abrams. Tuy nhiên, động cơ diesel của T-90 tiết kiệm nhiên liệu hơn nhiều so với động cơ tuốc bin khí của M1 Abrams.

Về vũ khí, xe được trang bị  pháo nòng trơn 2А46М-4 125mm kết hợp hệ thống nạp đạn tự động cho phép đạt tốc độ bắn rất cao. Theo giới thiệu, tốc độ bắn lý thuyết của T-90 khi nạp tự động đạt tới 80 phát/phút. Tháp pháo còn lắp súng máy đồng trục 7,62mm và súng máy phòng không 12,7mm lắp trên giá điều khiển tự động.

Tăng T-90 vừa hành tiến vừa bắn pháo 125mm
Tăng T-90 vừa hành tiến vừa bắn pháo 125mm

Pháo 125mm có thể bắn nhiều loại đạn gồm: đạn lõm xuyên giáp (HEAT), đạn nổ phá mảnh (HE) và đạn xuyên thép có cánh đuôi (APFSDS). Đặc biệt, pháo 125mm có thể bắn tên lửa chống tăng có điều khiển 9M119 Refleks qua nòng.

Đây là đặc tính mà nhiều dòng xe tăng Mỹ và phương Tây đều không có. Với tên lửa 9M119, T-90 có thể tiêu diệt mục tiêu xe tăng, xe bọc thép, trực thăng đổ quân ở cự ly tới 5.000m, độ chính xác rất cao.

Hệ thống kiểm soát bắn bằng máy tính và máy quét laser cùng ống ngắm nhiệt Agave của pháo thủ cho phép T-90 có thể tiêu diệt các mục tiêu di động nhanh trong điều kiện chiến đấu ban đêm.

Hệ thống này bao gồm thiết bị quan sát mọi điều kiện thời tiết, cả đêm lẫn ngày PNK-4S/SR AGAT lắp đặt trên khoang của trưởng xe, có khả năng phát hiện ra các mục tiêu có kích cỡ xe tăng trong tầm khoảng từ 700 đến 1.100m.

Về hệ thống phòng vệ, T-90 là sự kết hợp tuyệt vời giữa các hệ thống phòng thủ chủ động và bị động với vỏ giáp bằng thép đặc biệt pha trộn vật liệu tổng hợp cùng giáp phản ứng nổ (ERA) và hệ thống phòng thủ quang-điện kiểu gây nhiễu TShU-1-7 Shtora-1.

Đây là hệ thống được thiết kể chuyên dùng bảo vệ xe tăng trước các loại đạn, tên lửa chống tăng cá nhân và tên lửa chống tăng trên trực thăng dẫn đường bằng laser, hồng ngoại…, mang đến cho xe tăng T-90 khả năng phòng thủ rất cao trước các loại vũ khí chống tăng.

Có thể nói, T-90 là một sự kết hợp hiếm có các tính năng chiến đấu (hỏa lực, mức độ bảo vệ, tính cơ động và tính thuận tiện trong điều khiển) và kỹ thuật (tính độc lập, tính bảo dưỡng, tính chiến đấu, tính ổn định và tính kinh tế) đạt được hiệu quả chiến đấu cao nhất. 

Thiên Nam

Thứ Năm, 15/01/2015 13:45

Sự Kiện