Điện Biên Phủ: Cái bẫy của người Việt Nam nhử quân Pháp

(Hồ sơ) - Chúng tôi có lược một đoạn ngắn về tài tử điện ảnh Alain De lon, người từng là lính thủy quân có mặt tại Sài Gòn trong những năm 1953-1954. 

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Thung lũng Điện Biên Phủ, nhìn từ trên cao, ảnh chụp năm 1953

Ngày 20/11/1953, lính nhảy dù Pháp chiếm sân bay do người Nhật bỏ lại ở Thung lũng Điện Biên Phủ và một bàn đạp (thung lũng) chiều rộng 3 km, chiều dài 16 km, sau đó- các máy bay chở binh lính và vũ khí- trang thiết bị kỹ thuật bắt đầu hạ cánh xuống sân bay này.

Lính lê dương và thảm họa của họ ở Điện Biên Phủ

Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trên những ngọn đồi xung quanh, theo lệnh của Đại tá Christian de Castries (Tướng Đờ- Cát theo cách gọi quen thuộc-ND), 11 cứ điểm đã được xây dựng – các cứ điểm này lần lượt mang các tên Anne-Marie, Gabrielle, Beatrice, Claudine, Francoise, Huguette, Natasha, Dominique, Juno, Elian và Isabelle.

Trong quân đội Pháp lan truyền tin đồn rằng tên các cứ điểm này là tên những người tình của de Castries.

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Thung lũng Điện Biên Phủ và cứ điểm Isabelle

11.000 binh sĩ và sĩ quan thuộc các đơn vị khác nhau của Quân đội Pháp chiếm lĩnh 49 cứ điểm được xây dựng kiên cố, được các mạng chiến hào dày đặc bao quanh và được bảo vệ từ mọi phía bằng các bãi mìn. Sau đó, số lượng binh sỹ Pháp tăng lên 15 nghìn người (15.094 người): 6 tiểu đoàn dù và 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 trung đoàn pháo binh, một trung đoàn công binh, một tiểu đoàn xe tăng và 12 máy bay.

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Chiến hào Pháp tại Điện Biên Phủ

Nhiệm vụ đảm bảo cung cấp cho các đơn vị Pháp tại Điện Biên Phủ do 150 máy bay vận tải cỡ lớn đảm nhiệm. Thời kỳ đầu, Việt Minh không hề gây khó cho không quân vận tải Pháp, nhưng đến những gì xảy ra tiếp theo, thì đúng như một chiến lược gia nổi tiếng đã từng nói: "(Việt Minh) nhử (người Pháp) trèo lên mái nhà và sau đó rút thang".

Vào các ngày 6-7 tháng 3, các phân đội Việt Minh trên thực tế đúng là đã “rút thang”: tấn công các sân bay Gia Lâm và Cát Bi, phá hủy hơn một nửa số “phương tiện vận chuyển” (máy bay vận tải)- phá hủy tới 78 máy bay.

Sau đó nữa, các “Kachiusha” Việt Nam (pháo phản lực phóng loạt ‘Kachiusha”-ND) bắn nát đường băng cất hạ cánh tại Điện Biên Phủ, chiếc máy bay của Pháp có thể hạ và cất cánh trên đường băng này lần cuối là vào ngày 26/3.

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Một trong những máy bay cuối cùng đưa thương binh rời Điện Biên Phủ. Tháng 3/1954

Kể từ đó, việc tiếp tế chỉ được thực hiện bằng cách thả hàng hóa bằng dù, nhưng từ đây- lực lượng pháo phòng không của người Việt tập trung quanh căn cứ mới bắt đầu tích cực “can thiệp”.

Từ thời điểm này- số phận của cụm quân Pháp bị bao vây đã gần như được định đoạt.

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Các chiến sỹ Việt Minh tại Điện Biên Phủ

Còn người Việt Nam, để cung cấp cho cụm quân của mình tại Điện Biên Phủ, có thể nói mà không sợ bị cho là cường điệu chút nào rằng họ đã lập một kỳ tích lao động bằng cách mở một con đường dài hàng trăm km xuyên qua rừng rậm và xây dựng một căn cứ trung chuyển cách Điện Biên Phủ 55 km.

Bộ Tư lệnh Pháp chắc mẩm rằng Việt Minh không thể nào đưa pháo và súng cối đến Điện Biên Phủ- nhưng người Việt Nam đã dùng tay không mang chúng qua núi cao và rừng rậm và kéo pháo lên các ngọn đồi bao quanh căn cứ.

Ngày 13/3, sư đoàn 308 ("Sư doàn Thép") của Việt Minh đã tấn công và chiếm được cứ điểm Beatrice. Ngày 14/ 3, cứ điểm Gabrielle thất thủ.

Ngày 17/3, một bộ phận lính Thái bảo vệ căn cứ Anne-Marie đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh, số lính Thái còn lại rút khỏi cứ điểm. Sau đó, bắt đầu cuộc bao vây các cứ điểm khác tại Điện Biên Phủ.

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Lính Pháp dìu thương binh đến quân y viện tại Điện Biên Phủ, tháng 3/1954

Ngày 15/3, Đại tá Charles Piroth, chỉ huy pháo binh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tự sát: ông này từng hứa rằng pháo binh Pháp sẽ thống trị trong suốt trận chiến và chế áp pháo địch một cách dễ dàng: "Các khẩu pháo của bọn Việt Minh sẽ không bắn được quá ba phát, trước khi tôi tiêu diệt chúng."

Vì không còn tay, nên Charles Piroth không thể tự mình lên đạn khẩu súng ngắn. Chính vì thể, khi tận mắt chứng kiến thành quả “lao động” của lính pháo binh Việt Minh (hàng núi xác chết và nhiều người bị thương), ông này đã tự cho nổ tung mình bằng một quả lựu đạn.

Marcel Bigeard và những người lính dù của mình

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Marcel Bigeard tại Đông Dương

Ngày 16/3, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, Marcel Bigeard đến Điện Biên Phủ. Marcel Bigeard- đó thực sự là một huyền thoại trong Quân đội Pháp.

Anh ta chưa từng bao giờ nghĩ về việc phục vụ trong quân đội, và ngay cả khi đang thực hiện nghĩa vụ quân sự trong Trung đoàn 23 (1936-1938), chỉ huy của Marcel Bigeard có nói rằng ông ta không hề thấy bất cứ một “phẩm chất chiến binh nào” trong con người Marcel.

Tuy nhiên, Bigeard lại một lần nữa gia nhập quân đội vào năm 1939, và sau khi chiến tranh bùng nổ, anh yêu cầu được phân về phân đội trinh sát- biệt kích của trung đoàn.

Tháng 6/1940, phân đội trinh sát- biệt kích này đã thoát khỏi vòng vây của Quân Đức, nhưng do nước Pháp đầu hàng nên Bigeard vẫn bị bắt làm tù binh. Mãi 18 tháng sau, đến lần trốn trại thứ ba, anh ta mới đến được khu vực lãnh thổ do chính phủ Vichy kiểm soát, và sau đó được điều đến một trung đoàn lính Senegal.

Tháng 10/1943, trung đoàn này được điều đến Morocco. Sau cuộc đổ bộ của các đồng minh (mở Mặt trận thứ hai), Bigeard phục vụ tại phân đội Cơ quan Đường không Đặc biệt Anh (SAS) khi đó đang hoạt động tại khu vực biên giới giữa Pháp và Andorra.

Năm 1945, Bigeard đến Việt Nam và tại đây đã có một câu nói trở nên nổi tiếng: “Việc (nhiệm vụ) này sẽ được hoàn thành, nếu như có thể. Và nếu như không thể, nó sẽ vẫn được hoàn thành”

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Marcel Bigeard (người cầm bộ đàm), Đông Dương, Mùa thu 1953

Ở Điện Biên Phủ, ảnh hưởng của 6 chỉ huy các tiểu đoàn dù đối với việc ra các quyết định của de Castries lớn đến nỗi họ được gọi là "mafia lính dù". Đứng đầu nhóm “mafia” này là Trung tá Langlais, - ông này luôn ký dưới các báo cáo gửi cấp trên như sau: “Langlais và 6 tiểu đoàn trưởng của mình”. Phó của Langlais chính là Bigeard.

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Trung tá Langle, tháng 3 năm 1954

Về các hoạt động của Bigeard tại Việt Nam, Jean Puget sau này đã viết như sau:

...” Anh ta không ăn sáng với các bộ trưởng, không dứng tạo dáng trên trang bìa “Parimatch”, không tốt nghiệp học viện Bộ Tổng tham mưu, và thậm chí còn không hề nghĩ về các ngôi sao trên quân hàm tướng.

Anh không biết mình là một thiên tài. Anh là chính anh: anh ấy đưa ra quyết định chỉ trong nháy mắt, ra lệnh bằng một từ, dẫn quân theo mình chỉ bằng một cử chỉ".

Còn chính Bigeard thì đã gọi trận Điện Biên Phủ là trận - "Trận Véc-đoong trong rừng rậm” và viết: “Nếu họ giao cho tôi ít nhất là 10.000 lính lê dương, chúng tôi đã có thể cầm cự được.

Nhưng tất cả những người còn lại, trừ lính lê dương và lính dù, toàn là những kẻ không làm được việc gì, và không thể hy vọng gì vào chiến thắng với những lực lượng như vậy”.

Khi Quân đội Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ, Bigeard bị bắt làm tù binh, ở trại tù bình 4 tháng.

Max Booth, một nhà sử học người Mỹ thì nhận xét Bigeard như sau:

“Cuộc đời của Bigeard là một bằng chứng bác bỏ câu chuyện hoang đường rất phổ biến trong thế giới nói tiếng Anh rằng người Pháp là những người lính hèn nhát”.

Ông cũng gọi Bigeard là "một chiến binh hoàn hảo, một trong những người lính vĩ đại nhất của thế kỷ (20)".

Chính phủ Việt Nam không cho phép rải tro của Bigeard ở Điện Biên Phủ, vì vậy ông được an táng tại "Đài tưởng niệm chiến tranh Đông Dương" (thành phố Frejus, Pháp).

Chính Bigeard đã trở thành nguyên mẫu của nhân vật chính trong bộ phim của Mark Robson “Lost Command” (năm 1966) .

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Cảnh trong phim “Lost Command”- nhân vật chính (trái) tại Việt Nam

Chúng tôi sẽ còn nói đến cả Bigeard và cả bộ phim “Biệt đội mất tích” trong bài viết về Chiến tranh Algeria sắp tới. Còn bây giờ thì xin hãy một lần nữa ngắm kỹ người lính dù dũng cảm này và những người lính của anh ta:

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Marcel Bigeard trong Chiến dịch “Irondel”, Việt Nam, tháng 7/1953

Dien Bien Phu: Cai bay cua nguoi Viet Nam nhu quan Phap
Lính nhảy dù của Tiểu đoàn Bigeard, tháng 7/1953. Ba người đầu từ trái sang sau đó tử trận tại Điện Biên Phủ

>>> Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

>>>Lính lê dương và thảm họa của họ ở Điện Biên Phủ

  • Lê Hùng- Nguyễn Hoàng (còn tiếp)

Thứ Ba, 19/05/2020 06:52

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện