Siêu bom nhiệt hạch Teller-Ulam có thể hủy diệt cả lục địa

(Hồ sơ) - Đó là "siêu bom" có công suất cực lớn từng được đề xuất. Nếu ra đời, nó có thể phá hủy cả lục địa, báo Wearethemighty (WTC) đầu tháng 5/2020 cập nhật.

Bối cảnh & cha đẻ bom nhiệt hạch Teller-Ulam

Theo WTC, ngay sau khi thực hiện vụ nổ hạt nhân lớn nhất xưa và nay trên đảo san hô Bikini ở TBD, Mỹ đã có kế hoạch nhắm tới một loại vũ khí lớn hơn, có công suất 10.000 megaton, có sức công phá gấp 670.000 lần quả bom Mỹ ném xuống TP Hiroshima, Nhật Bản tháng 8-1945, lớn đến mức nó sẽ phá hủy một lục địa và đầu độc cả trái đất.

Sức hủy diệt này mạnh gấp 200 lần bom Tsar Bomba, (bom Sa Hoàng, vũ khí hạt nhân lớn nhất, mạnh nhất từng được con người chế tạo).

Nó có khả năng phá hủy cả một lục địa và làm ô nhiễm toàn bộ trái đất, và không có bất kỳ giải pháp nào để khắc phục được, nói cách khác, quét sạch cuộc sống ở mọi nơi.

Vũ khí chưa có tên gọi này liên quan mật thiết tới nhà vật lý học người Do Thái gốc Hung, người phải trốn tránh Đức Quốc xã khi đế chế này trỗi dậy để sang Mỹ: Edward Teller.

Teller cũng là một trong những tác giả bức thư được ký bởi Albert Einstein gửi cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt thúc đẩy chương trình hạt nhân của Mỹ trong Thế chiến II.

Sau này, Edward Teller được điều đến làm việc, trở thành một trong những nhân vật chủ chốt của dự án Manhattan, giúp Mỹ phát triển bom H hay bom nhiệt hạch có công năng mạnh hơn hàng nghìn lần so với bom nguyên tử truyền thống để đối đầu với Liên Xô trong cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân.

Theo Lewis Strauss, người từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Mỹ (AEC), thì trong dự án Manhattan, các nhà bác học được chia thành ba nhóm chính, gồm nhóm nghiên cứu thuần túy, nhóm chuyên về khoa học ứng dụng, nhóm còn lại thì nghiên cứu về mối quan hệ giữa khoa học với chính trị.

Riêng Edward Teller hội đủ đủ tố chất để tham gia cả ba nên ông đã được mệnh danh là “sư phụ của các sư phụ”, từng đảm nhận chức Giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, cha đẻ của bom nhiệt hạch.

Sieu bom nhiet hach Teller-Ulam co the huy diet ca luc dia
Edward Teller và Stanislaw Ulam, cha đẻ của cấu hình siêu bom nhiệt hạch.

Edward Teller (1908 – 2003) sinh tại thủ đô Budapest (Hungary), trong một gia đình người Do Thái giàu có. Sau Thế Chiến I, đất nước Hungary bị chia cắt, kinh tế tàn lụi nên Teller đã rời quê hương sang Đức, đăng ký vào Viện Kỹ thuật của thành phố Karlsruhe.

Ông tốt nghiệp kỹ sư hóa và đỗ tiến sĩ năm 1930 chuyên ngành hóa lý tại Đại học Leipzig (Đức), nghiên cứu của ông liên quan đến ion phân tử hydro, đặt nền móng cho thuyết quỹ đạo phân tử được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.

Năm 1933, Hitler lên nắm chính quyền và áp dụng chính sách bài Do Thái, khiến Teller phải trốn sang Anh rồi sang Mỹ. Năm 1939, Teller lái xe chở hai nhà khoa học nổi tiếng khác là Leo Szilard và Eugene Wigner đến gặp Albert Einstein.

Tất cả, cùng nhau soạn một lá thư gửi cho Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, cảnh báo nguy cơ vũ khí nguyên tử của Đức Quốc xã, và đề xuất Mỹ nên khởi động chương trình hạt nhân riêng.

Điều này khiến dự án Manhattan năm 1942 ra đời, với mục đíhc chính là chế tạo vũ khí nguyên tử. Sau lần gặp Einstein, Teller tham gia vào nhóm nghiên cứu của Enrico Fermi tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân thuộc Đại học Chicago. Tại đây, cả nhóm thực hiện thành công phản ứng dây chuyền phân hạch đầu tiên trên thế giới. 

Sieu bom nhiet hach Teller-Ulam co the huy diet ca luc dia
Vụ nổ thử nghiệm bom Ivy Mike tại quần đảo Marshall

Năm 1943, Chính phủ Mỹ bí mật thành lập Phòng Thí nghiệm Los Alamos trong khuôn khổ của dự án Manhattan. Tháng 7/1945, nhóm nghiên cứu của Teller đã chế tạo thành công quả bom nguyên tử đầu tiên có tên Gadget và được thử nghiệm tại một sa mạc gần Alamogordo, New Mexico.

Trong khi chế tạo Gadgeto, Teller nảy sinh ý tưởng về loại bom H có sức công phá mạnh hơn duwha vào phản ứng nhiệt hạch. Năng lượng của bom nguyên tử bắt nguồn từ phản ứng phân hạch của các nguyên tử lớn, nặng, chủ yếu là uranium hay plutonium.

Ngược lại, bom hydro lại có cơ chế hoạt động khác, dựa vào sự kết hợp của các nguyên tử nhẹ, chủ yếu là đồng vị hydro để trở thành helium, gần giống với lõi ngôi sao để kích hoạt phản ứng tổng hợp hạt nhân hydro nặng (deuterium) và giải phóng một năng lượng khổng lồ.

Mọi sự đang diễn ra trôi chảy thì sự kiện Mỹ thả hai quả bom nguyên tử với biệt danh Cậu bé (Little Boy) và Kẻ béo phì (Fat Man) xuống TP Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản, khiến các nhà khoa học làm việc trong Dự án Manhattan cảm thấy lương tâm bị cắn rứt nên không muốn tham gia phát triển vũ khí nguyên tử khác nữa, việc này đồng nghĩa, ý tưởng ra đời siêu bom của Teller bị lãng quên.

Mọi sự tái ồn ào trở lại khi Liên Xô thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên vào tháng 9/1949, Teller lại đề xuất dự án chế tạo bom H với sức công phá gấp hàng nghìn lần bom nguyên tử truyền thống để giúp Mỹ thắng thế trước Liên Xô trong cuộc chạy đua hạt nhân.

Rất may, dự án này tiếp tục bị đa số các nhà khoa học thuộc AEC phản đối, kể cả chủ tịch AEC, Robert Oppenheimer cũng không ngoại trừ với lý do, tính khả thi H, chỉ cần bom nguyên tử là đủ để tiêu diệt các mục tiêu quân sự, còn siêu bom là khoogn cần thiết vì nó có thể giết chết hàng triệu người, kể cả bên thắng lẫn bên thua.

Sieu bom nhiet hach Teller-Ulam co the huy diet ca luc dia
Bom Sa Hoàng của Liên Xô có sức công phá tương đương 57 triệu tấn thuốc nổ TNT

Vào tháng 1/1950, khi một vụ gián điệp nguyên tử bị phát giác khiến dư luận không khỏi giật mình. thủ phạm là Klaus Fuchs, nhà khoa học Anh gốc Đức làm việc tại Phòng Thí nghiệm Los Alamos thú nhận trao các tài liệu nguyên tử cho gián điệp của Liên Xô, bao gồm tài liệu liên quan đến phản ứng nhiệt hạch để phát triển bom H.

Sự việc khiến các nhà lãnh đạo nước Mỹ tỏ ra lo ngại. Chỉ bốn ngày sau khi Fuchs nhận tội, Tổng thống Mỹ Harry Truman ra lệnh cho AEC nối lại dự án tiếp tục nghiên cứu, chế tạo bom H, đồng thời thành lập Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore (LLNL) với sự tham gia của Teller để thực hiện công việc này.

Năm 1952, Teller và các cộng sự chế tạo thành công quả bom H đầu tiên mang tên Ivy Mike. Trái bom này có sức công phá tương đương 10,4 triệu tấn thuốc nổ TNT, mạnh gấp 700 lần quả bom thả xuống Hiroshima.

Vụ nổ Ivy Mike tại quần đảo Marshall trên Thái Bình Dương lớn đến mức phá hủy hoàn toàn đảo Elugelab và tạo ra một đám mây hình nấm cao 48 km.

Ivy Mike không phải là bom có thể thả từ máy bay, bởi nó có kích thước cực lớn và trông giống như một nhà chứa máy bay hoặc nhà máy hơn. Quả bom này được lắp ráp trên một căn cứ thử nghiệm tại hòn đảo Elugelab trên cụm đảo san hô Enewetak ở Thái Bình Dương.

Phần chính của quả bom có chiều cao 6 m và chiều rộng 2m, bao phủ là lớp vỏ thép dày đến 30 cm và có trọng lượng 56 tấn. Để ngăn nguyên liệu chính là deuterium hóa lỏng (một đồng vị của hydro) bốc hơi, người ta sử dụng đến 18 tấn dung dịch làm lạnh. Tổng khối lượng của quả bom Ivy Mike là 74 tấn.

Trong thời gian làm việc tại LLNL từ năm 1956 đến năm 1960, Teller đã nghiên cứu và phát triển vũ khí nguyên tử, đặc biệt là đầu đạn nhiệt hạch nhỏ, đủ nhẹ để tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm có thể mang theo và nay là đề suất cấu hình siêu bom nhiệt hạch.

Cấu hình siêu bom nhiệt hạch Teller-Ulam

Vũ khí nhiệt hạch (Thermonuclear weapon) là vũ khí sử dụng năng lượng từ phản ứng phân hạch hạt nhân chính để nén và kích động một phản ứng tổng hợp hạt nhân thứ cấp.

Kết quả, sức nổ tăng gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần so với các loại bom nguyên tử thông thường hay vũ khí phân hạch một tầng.

Vũ khí nhiệt hạch thông thường là bom khinh khí hay bom H bởi vì nó sử dụng phản ứng nhiệt hạch hydro. Các giai đoạn phân hạch trong vũ khí như vậy là cần thiết để gây ra các phản ứng tổng hợp xảy ra trong vũ khí nhiệt hạch.

Trong Thế chiến II, khi đang chế tạo bom nguyên tử, Teller và một số nhà khoa học khác đã hối thúc tổng thống Mỹ cho ra đời "siêu bom", có công suất lớn hơn nhiều so với vũ khí nguyên tử đầu tiên.

Thiết kế hiện đại của tất cả các loại vũ khí nhiệt hạch ở Mỹ được gọi là cấu hình Teller-Ulam, đặt theo tên của hai nhà khoa học,”tiền bối” của loại bom này, Edward Teller và Stanislaw Ulam đầu thập niên 50 thế kỷ trước.

Quả bom mạnh nhất trong lịch sử là bom Sa Hoàng như đề cập ở trên có sức công phá tương đương 57 triệu tấn thuốc nổ TNT do Liên Xô chế tạo.

Với dòng siêm bom này, Edward Teller và Stanislaw Ulam hy vọng, trong khi bom nguyên tử chỉ nhắm tới khoảng 10 - 15 kiloton năng lượng, thì siêu bom đề suất có thể đạt ngưỡng 10-15 megatons.

Thiết kế Teller-Ulam lần đầu được kích nổ tại Enewetak Atoll vào năm 1952, tạo ra vụ nổ 10,4 megaton tạo ra một miệng hố rộng 6.240 feet (trên 1.900m) ở nơi thử nghiệm.

Loại bom đề suất của Teller kết hợp nhiều thiết bị nhiệt hạch với nhau và được đệ trình lên cho Ủy ban Cố vấn Chung (GAC), nơi phê duyệt các thiết kế vũ khí mới.

Mục đích của Teller là muốn thiết kế vũ khí hạt nhân chiến thuật và vũ khí hạt nhân 10.000 megaton. Alex Wellerstein, giáo sư lịch sử hạt nhân đứng sau ứng dụng NUKEMAP, cho biết đây là một vụ nổ công suất 10 gigaton có sức hủy diệt cực lớn.

“ Với 10.000 megaton, theo ước tính của tôi, đủ mạnh để hủy diệt toàn bộ New England hoặc bang California. Hoặc tất cả của Vương quốc Anh và Ireland hay tất cả lãnh thổ của Pháp hoặc Đức hay Bắc và Nam Triều Tiên”, Wellerstein không giấu diếm nhấn mạnh.

Nếu phát nổ, siêu bom này sẽ tạo ra sóng áp lực ngay tức thì, kèm theo quả cầu lửa, bụi phóng xạ hạt nhân là chết người ngay lập tức ở nhiều quốc gia và đầu độc toàn bộ trái đất.

Nó mạnh gấp 100 lần so với những trái bom nguyên tử đã từng được con người biết đến. Thậm chí nếu thả vào trung tâm của Liên Xô, nó sẽ hủy diệt cả những vùng đất rộng lớn ở Tây Âu và lan sang cả Mỹ nữa.

Rất may, siêu bom này mới chỉ là đề suất trên giấy, chưa một tổng thống Mỹ nào giám phê duyệt, nên dư luận đã thở phào, như thể vượt qua một trận đại hồng thủy giả định.

Sieu bom nhiet hach Teller-Ulam co the huy diet ca luc dia
Tuy được đề xuất nhưng do “thiếu tính khả thi” nên nhân loại đã tránh được thảm họa diệt chủng.

 Khắc Nam

Thứ Tư, 13/05/2020 15:55

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện