Thảm họa của Quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ

(Hồ sơ) - Xin giới thiệu phần cuối của bài viết "Lính lê dương và thảm họa của họ ở Điện Biên Phủ" của nhà quân sự Nga V.A.Ryzhov

Llữ đoàn khét tiếng số 13 của Quân đoàn Lê Dương cũng tham chiến tại Điện Biên Phủ và chịu những tổn thất nặng nề nhất trong lịch sử của mình- mất tới khoảng ba nghìn người thiệt mạng, trong đó có hai chỉ huy cấp trung tá.

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn 3, 13e DBLE, và lính lê dương, Miền Bắc Việt Nam, tháng 10/1953

Thất bại trong trận chiến này trên thực tế đã quyết định kết cục của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Cựu trung sĩ Lê dương Claude-Yves Solange sau này nhớ lại trận Điện Biên Phủ như sau:

“Cũng có thể, cách nói như sau về lính Lê dương là không thực sự khiêm tốn lắm, nhưng những người chiến đấu trong hàng ngũ của chúng tôi (lính Lê dương) khi đó, toàn là các vị thần chiến tranh thực thụ, và không chỉ có người Pháp, mà còn cả người Đức, người Scandinavia, người Nga, người Nhật, thậm chí là còn mấy người Nam Phi nữa.

Tất cả những người lính Đức đều đã tham gia Chiến tranh Thế giới thứ hai, và người Nga- cũng vậy. Tôi còn nhớ trong đại đội số 2 của tiểu đoàn của tôi có hai người Cô dắc Nga đã cùng từng chiến đấu tại Stalingrad:

một người là trung úy Hiến binh Dã chiến Liên Xô (ý muốn nói tới Bộ đội của Bộ Nội vụ Liên Xô - NKVD), người còn lại- lại là một thượng úy trong Sư đoàn kỵ binh . Cả hai đều đã chết khi chiến đấu bảo vệ cứ điểm Isabelle.

Những người cộng sản (Việt Minh) đã chiến đấu như quỷ dữ, nhưng những người lính Lê dương chúng tôi cũng cho họ thấy rằng chúng tôi cũng biết đánh nhau.

Tôi nghĩ rằng không có một đội quân Châu Âu nào trong nửa sau của thế kỷ 20 lại phải - và, cầu Chúa, đừng để bao giờ có ai đó lại phải – đánh nhau giáp lá cà trong những trận chiến khủng khiếp và quy mô lớn như những gì chúng tôi đã phải từng trải qua trong cái thung lũng chết tiệt này.

Hỏa lực pháo binh dữ dội của Việt Minh và những cơn mưa xối xả đã biến các chiến hào và hầm thành một đầm lầy nhão nhoét, và đôi khi chúng tôi còn đánh nhau khi nước ngập đến thắt lưng.

Các nhóm tấn công của họ (Việt Minh) hoặc là đột kích hoặc là đào hào tiến sát đến chỗ chúng tôi, và khi đó thì hàng chục, hàng trăm chiến binh hai bên lao vào nhau, đánh nhau bằng dao găm, lưỡi lê, báng súng, xẻng công binh, rìu chặt cây".

Nhân tiện đây xin nói thêm, tôi (tác giả Ryzhov) không biết những thông tin này có giá trị như thế nào đối với các vị, nhưng, theo những nhân chứng đã từng trực tiếp tham chiến, thì lính lê dương người Đức khi phải vào trận giáp lá cà với lính Việt Minh ở Điện Biên Phủ thì thường lẳng lặng đánh, còn lính Lê dương người Nga thì vừa đánh vừa la hét (có thể là cả văng tục).

Năm 1965, đạo diễn người Pháp Pierre Schoendoerffer (từng là phóng viên ảnh chiến trường bị bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ) đã thực hiện bộ phim đầu tiên về Chiến tranh Việt Nam và các sự kiện năm 1954 – bộ phim mang tên "Trung đội 317", một trong những nhân vật chính của phim là cựu quân nhân Quân đội Đức Quốc Xã, còn lúc bấy giờ là chuẩn úy Lê dương Wildorf.

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Cảnh trong phim "Trung đội 317", năm1965

Nhưng bộ phim này vẫn chỉ là một cái bóng mờ so với một tác phẩm hoành tráng khác của ông- phim “Điện Điên Phủ” (1992), trong số những nhân vật chính, theo ý đồ của đạo diễn, có cả một cựu phi công phi đội Normandie-Niemen (là Anh hùng của Liên Xô!).

(Xin mở ngoặc- phi đội Normandie-Niemen là một phi đội Không quân Pháp chiến đấu tại mặt trận Xô- Đức cùng Hồng quân Liên Xô trong Thế chiến thứ Hai. Phi đội này nằm trong đội hình Sư đoàn không quân số 303, Tập đoàn quân không quân số 1, Phương diện quân Tây (từ tháng 5/1944 - là Phương diện quân Belorussia số 3-ND).

Các cảnh trong phim “Điện Biên Phủ”:

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Còn người trong ảnh dưới đây- chính là phóng viên ảnh chiến trường Pierre Schoendoerffer, ảnh chụp ngày 1/10/1953- Việt Nam:

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu

Khi nhận thức được là mình đã mắc bẫy, người Pháp quyết định kéo “Anh cả” vào cuộc - họ đề nghị Mỹ tiến hành các đòn tấn công đường không ồ ạt nhằm vào các đơn vị Việt Minh đang bao vây Điện Biên Phủ bằng hàng trăm máy bay ném bom “B-29”, thậm chí còn gợi ý người Mỹ sử dụng cả bom nguyên tử (Chiến dịch Kền kền).

Người Mỹ đã khôn khéo né tránh đề nghị này- lúc đó còn chưa đến lượt họ phải "nhận một cái vả vào cổ" từ người Việt Nam.

Kế hoạch “Condor” với ý đồ cho đổ bộ những đơn vị lính dù cuối cùng còn lại vào sau lưng Bộ đội Việt Minh cũng bị phá sản do thiếu máy bay vận tải. Kết quả là, các đơn vị bộ binh của Pháp phải hành quân bộ lên Điện Biên Phủ- nhưng đã muộn.

Kế hoạch “Albatros”- đột phá chọc thủng vòng vây cũng bị chỉ huy các đơn vị bị bao vây cho là không khả thi.

Ngày 30/3, cứ điểm Isabelle bị bao vây (trận chiến mà Claude Yves Solange vừa nhắc tới ở trên), nhưng quân đồn trú đã chống cự cho đến tận ngày 7/5. Ngày 12/4, cứ điểm "Eliane-1" thất thủ, vào đêm rạng ngày 6/5 – cứ điểm "Eliane-2" chịu chung số phận. Vào ngày 7/ 5, Quân đội Pháp đầu hàng.

Trận chiến Điện Biên Phủ kéo dài 54 ngày đêm - từ ngày 13/3 đến ngày 7/5/1954. Những tổn thất của người Pháp về sinh lực và vũ khí- trang thiết bị kỹ thuật quân sự là rất lớn.

Có tới 10.863 binh sĩ và sĩ quan của các trung đoàn tinh nhuệ nhất của Pháp đã bị bắt làm tù binh.

Chỉ có khoảng 3.290 người tróng số đó trở về được nước Pháp, trong đó có hàng trăm lính lê dương: nhiều người chết vì vết thương hoặc bệnh nhiệt đới, còn những người (lính Lê dương là) công dân Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu thì đã được “quan tâm” đưa ra khỏi các trại tù binh Việt Nam để cho về nước- để “chuộc tội bằng lao động tích cực”.

Nhân tiện cũng nói thêm, những người này may mắn hơn nhiều so với số còn lại - trong số họ, tỷ lệ sống sót cao hơn nhiều.

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Những người lính Việt Nam cắm cờ trên nóc hầm chỉ huy của Quân đội Pháp, Điện Biên Phủ, năm1954
 

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Các quân nhân Pháp bị bắt làm tù binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1954
Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Các tù binh Pháp sau khi được phóng thích. Hải Phòng, cuối tháng 8/1954

Nhưng không phải tất cả các đơn vị Pháp tại Điện Biên Phủ đều đầu hàng. Đại tá Lalande chỉ huy cứ điểm Isabelle đã ra lệnh cho quân đồn trú của mình vừa đánh vừa chạy ngang qua các trận địa của người Việt Nam.

Đó là lính Lê dương của Trung đoàn số 3, binh sỹ Trung đoàn Algeria số 1 và các các binh sỹ người Thái. Xe tăng, pháo, súng máy hạng nặng bị bỏ lại hết- binh sỹ chỉ mang theo và chiến đấu bằng súng bộ binh cá nhân.

Thương binh nặng bị bỏ lại trong cứ điểm, những người bị thương nhẹ được quyền lựa chọn- hoặc tham gia nhóm tấn công chọc thủng vòng vây hoặc ở lại, nhưng được cảnh báo rằng nếu đi cùng sẽ không một ai dừng lại để chờ họ và lại càng không có ai khiêng họ.

Bản thân Lalande bị bắt ngay trước khi anh ta chưa kịp rời cứ điểm. Lính Algeria thì rơi vào ổ phục kích và đầu hàng vào ngày 7/5.

Ngày 8/5, nhóm quân do đại úy Michaud chỉ huy khi bị người Việt ép sát vào một vách đá cách Isabelle 12 km cũng đã đầu hàng, nhưng có 4 lính Châu Âu và 40 lính Thái nhảy được xuống sông, trèo qua những ngọn núi và rừng rậm và cuối cùng đến được vị trí của các đơn vị Pháp đồn trú bên Lào.

Một trung đội được thành lập vội từ các kíp lính xe tăng bị bỏ lại cùng một số lính Lê dương Đại đội 11 đã thoát khỏi vòng vây, trong 20 ngày họ đã đi cách Điện Biên Phủ được 160 km.

Bốn lính tăng và 2 lính dù từ cứ điểm Isabelle đã trốn thoát khỏi trại tù binh và đến ngày 13/ 5, bốn người trong số họ (có 3 lính tăng và một lính nhảy dù) cũng đã tìm được các đơn vị Quân Pháp.

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Lính Lê dương Tiểu đoàn dù số 1, năm 1954.

Ngay ngày 8/5/1954, các cuộc đàm phán tại Geneva về việc lập lại hoà bình và Pháp rút quân khỏi Đông Dương đã được khởi động. Sau khi thua Phong trào yêu nước Việt Minh trong một cuộc chiến tranh trường kỳ, nước Pháp buộc phải rút khỏi đất nước Việt Nam khi đó bị chia cắt dọc theo vĩ tuyến 17.

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Việt Nam, Điện Biên Phủ, Tượng đài Chiến thắng: ba người lính Việt Nam trên nóc hầm de Castries với lá cờ mang dòng chữ “Quyết chiến Quyết thắng”

(Tướng) Raoul Salan, người đã chiến đấu ở Đông Dương từ tháng 10/1945, có vẻ như không cảm thấy nhục vì thất bại tại Điện Biên Phủ: ngày 1/1/1954, ông ta được bổ nhiệm làm Tổng thanh tra Các Lực lượng phòng thủ quốc gia Pháp và quay lại Việt Nam vào ngày 8/6/1954 để chỉ huy Quân Viễn chinh Pháp. Nhưng thời của Đông Dương thuộc địa Pháp đã qua.

Tham hoa cua Quan doi Phap tai Dien Bien Phu
Một đơn vị Bộ đội Việt Minh trên đường phố Hà Nội, ngày 9/10/1954

Ngày 27/10/1954, Salan trở lại Paris và vào đêm ngày 1/11, các chiến binh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Algeria đã tấn công các cơ quan chính phủ, doanh trại quân đội... và bắn vào một chiếc xe buýt chở trẻ em tại thành phố Bon. Trước mắt Salan lại là một cuộc chiến đẫm máu ở Bắc Phi cùng những nỗ lực tuyệt vọng và bất thành của mình nhằm cứu một Algeria thuộc Pháp.

Chuyện này sẽ được chúng ta bàn tới trong các bài viết riêng, còn trong phần tiếp theo chúng ta sẽ nói về cuộc nổi dậy ở Madagascar, cuộc khủng hoảng kênh đào Suez và các hoàn cảnh giành độc lập của Tunisia và Morocco.

- Lính lê dương và thảm họa của họ ở Điện Biên Phủ

- Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Điện Biên Phủ: Cái bẫy của người Việt Nam nhử quân Pháp

  • Lê Hùng- Nguyễn Hoàng (dịch)

Thứ Tư, 20/05/2020 07:14

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện