'Hạn ngạch tử thần' cho quân đội Mỹ

(Lực lượng vũ trang) - “Hội chứng Việt Nam” buộc quân đội Mỹ che giấu tổn thất trong chiến đấu trên toàn thế giới

'Han ngach tu than' cho quan doi My
Ảnh: Zuma / TASS

Xin giới thiệu bài của tác giả Victor Sokirko đăng trên báo Nga “Svobodnaia pressa”

Trong lịch sử, Quân đội Mỹ đã nhiều lần tác chiến bên ngoài đất nước của mình, và tất nhiên là họ cũng phải gánh chịu những thiệt hại.

Chẳng hạn, trong Thế chiến II, Hoa Kỳ đã mất 418 nghìn người ở Châu Âu và Indonesia, hơn 671 nghìn người bị thương, 130 nghìn người bị bắt làm tù binh.

Thiệt hại của Mỹ ít hơn nhiều so với Hồng quân Liên Xô, vì Liên Xô đã chấp nhận gánh nặng của cuộc chiến về phía mình. Tuy nhiên, Mỹ cho rằng sự thất bại của quân đội Đức và Nhật Bản chỉ do công lao của họ và sự tổn thất đó không phải là vô ích.

Sau đó, tình hình đã thay đổi - những người lính chết bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ bắt đầu được xã hội Mỹ nhận thức là dấu hiệu sự yếu kém của chính phủ. Nguyên tắc của họ là: Mình có thể chém giết người khác, còn người khác không được phép hại mình.

Vào đầu những năm 50 của thế kỷ trước, quân đội Hoa Kỳ trong thành phần của lực lượng liên minh đã tham gia vào cuộc chiến ở Triều Tiên. Theo các ước tính khác nhau, có từ 300 đến 480 nghìn lính Mỹ đã được đổ vào bán đảo Triều Tiên.

Theo tờ New York Times, được ấn hành ngày 21 tháng 7 năm 1953, chính thức tuyên bố tổn thất của Hoa Kỳ lên tới 37.904 quân lính bị giết, bị bắt làm tù binh và mất tích.

Tiếp theo, cuộc xung đột vũ trang lớn nhất trên hành tinh có sự tham gia của Mỹ, diễn ra tại Việt Nam, theo ước tính khác nhau, có gần 60 nghìn lính Mỹ đã chết ở đây.

Cuộc chiến kéo dài và đẫm máu này đã gây ra hậu quả thảm khốc cho Hoa Kỳ, cả trong nước Mỹ và trên trường quốc tế. Ngay sau khi người Mỹ cảm thấy quy mô của đất nước họ tham gia vào cuộc chiến, những bất đồng đã tăng mạnh đối với các hành động của chính phủ.

Nền kinh tế Mỹ cũng chịu một đòn nặng nề, nhưng tâm trạng về một "cuộc chiến vô bổ mang lại những tổn thất to lớn" đã chiếm ưu thế trong xã hội. “Hội chứng Việt Nam” đã làm rung chuyển nền tảng của xã hội Mỹ, dẫn đến sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, định hướng lại giá trị của tầng lớp trung lưu trong dân chúng Mỹ và chính sách xã hội trong nước.

Kể từ đó, chính quyền Mỹ đã ngăn cấm quân đội duy trì những tổn thất nặng nề, tuy nhiên, họ không từ bỏ chính sách đối ngoại bằng bạo lực vũ trang.

Quốc hội Hoa Kỳ đã thiết lập cho quân đội một "hạn ngạch tử thần" nhất định, không được vượt quá giới hạn, có thể ảnh hưởng đến tâm trạng trong xã hội và gây ra các cuộc biểu tình phản chiến.

Những tổn thất vẫn tiếp tục diễn ra, nhưng đã được họ che giấu cẩn thận. Ví dụ, trong các hoạt động quân sự ở Iraq từ 2003 đến 2010, theo số liệu chính thức, có 4.423 lính Mỹ thiệt mạng và 31.942 người bị thương với mức độ nghiêm trọng khác nhau.

Trong khi đó, theo thông tin của Văn phòng Cựu chiến binh Hoa Kỳ, trong cuộc xung đột ở Iraq và Chiến tranh vùng Vịnh, Hoa Kỳ có 73 nghìn người thiệt mạng.

Theo số liệu của Quân đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, thương vong thực sự của người Mỹ lên tới hơn 11 nghìn người. Theo số liệu của phiến quân Iraq, 30 đến 40 nghìn lính Mỹ đã chết trong cuộc xung đột.

Được biết, trong thời kỳ này, 8 nghìn người đã xuất ngũ, rời khỏi Quân đội Hoa Kỳ. Dữ liệu thực sự, rất có thể, nằm ở đâu đó ở khoảng giữa các thông tin, nhưng dù sao đi nữa, nó phải lớn hơn nhiều so với thông tin mà Lầu Năm Góc đã đưa ra về số lượng binh sỹ thiệt mạng.

Nói chung, người Mỹ luôn tìm cách che giấu trong những tổn thất của họ. Ví dụ như trong chiến dịch “Sức mạnh quân Đồng minh” ở Nam Tư năm 1999, khi dồn toàn bộ sức mạnh của NATO tấn công ồ ạt vào một quốc gia bé nhỏ, có dân số ít hơn dân số New York, người Mỹ đã che giấu kỹ những mất mát của họ.

Khi đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã phân bổ một “hạn ngạch tử thần” cho quân đội của họ là không quá 100 người và theo như tuyên bố, số người thiệt mạng của quân đội Mỹ đã không vượt quá mức cho phép.

Nhưng trên thực tế, tổn thất của cả Mỹ và đồng minh của họ lớn hơn nhiều. Theo báo cáo chính thức của đại diện bộ chỉ huy quân sự NATO, chiến dịch chống Nam Tư không tốn nhiều xương máu, và được cho là chỉ mất có một vài máy bay.

Còn theo phía Nam Tư, trong 78 ngày không kích của NATO, có 61 máy bay, 7 trực thăng, 30 máy bay không người lái (UAV) và 238 tên lửa hành trình đã bị bắn hạ.

Tổng cục Tình báo Trung ương của Bộ Tổng tham mưu Nga (GRU) sau đó đã trích dẫn dữ liệu về sự thiệt hại của các lực lượng liên minh cũng ngang ngửa với mất mát của Nam Tư.

Những con số tương tự cũng đã được các nguồn tin quân sự Trung Quốc lên tiếng. Còn tại Hoa Kỳ, người ta đã cố gắng làm cho tổn thất của chiến dịch đó trở nên “vô hình”, giống như những máy bay sử dụng công nghệ tàng hình bị các tay súng phòng không Nam Tư bắn hạ.

Các quan chức NATO, được trích dẫn bởi phương tiện truyền thông phương Tây, cũng đã phải thừa nhận những thiệt hại thực sự. Khi bắt đầu chiến dịch, Bộ trưởng Quốc phòng Anh George Robertson (đã từ chức ngày 11 tháng 10 năm 1999) đã thừa nhận có 3 máy bay ném bom chiến đấu Tornado của Anh đã bị bắn hạ trên bầu trời Nam Tư.

Báo chí của Mỹ không dám thẳng thắn nêu con số thiệt hại do sự kiểm duyệt của Lầu năm góc, nhưng ngay cả ở đó, Hiệp hội nghiên cứu chiến lược quốc tế, một tháng sau khi bùng nổ chiến sự, đã đưa ra dữ liệu rằng tổn thất về không quân của quân Đồng minh lên tới 38 máy bay, 6 trực thăng và 7 UAV.

Tuy nhiên, sau khi kết thúc Chiến dịch “Sức mạnh Đồng minh”, dữ liệu cuối cùng về tổn thất, bao gồm cả những thiệt hại của không quân cũng đã không được công bố.

Những gì mà NATO chính thức công nhận không bao gồm những quy định về “hạn ngạch tử thần” - đó là tổn thất của UAV - liên minh đã thừa nhận có 32 máy bay không người lái bị hạ (điều này thậm chí còn nhiều hơn cả công bố của phía Nam Tư).

Bởi vì sự mất mát máy bay không người lái không liên quan đến việc các phi công bị thiệt mạng, vì người ta không ngại nói đến thiệt hại của các thiết bị đắt tiền mà điều quan trọng là phải loại trừ sự mất mát về người

Những tờ “Giấy báo tử” không thể tự “bay” đến Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, chỉ có những thiết bị bị hư hại được ghi nhận, mà những thứ đó thì trong kho vũ khí của Hoa Kỳ không thiếu.

Chiến dịch của NATO, do Hoa Kỳ chủ trì, đã ngừng hoạt động sau hai tháng rưỡi. Mục tiêu cuối cùng của họ không đạt được, Mỹ và NATO đã không thể khuất phục được Serbia, và những kết quả đạt được ở Kosovo cũng rất đáng ngờ.

Quân đội Mỹ chỉ nhận được lệnh: Dừng lại! Giới hạn tổn thất không được quá 100 người đã hết. Theo một số báo cáo, lực lượng Đồng minh đã mất hơn 700 người ở Nam Tư, bao gồm cả lính đánh thuê người Albania. Quân đội Mỹ đã có khoảng 200 người thiệt mạng. Washington quyết định không nên tiếp tục leo thang.

Người Mỹ che giấu những mất mát trong bất kỳ cuộc phiêu lưu quân sự nào của họ. Họ chỉ thích một bức tranh đẹp đẽ về những chiến thắng trên nền của lá cờ sao vạch. Còn những chiếc quan tài được phủ lên trên bằng lá cờ đó thì họ không thích phô ra.

Họ cố gắng che giấu sự thật về việc quân lính Mỹ thương vong ở Iraq do bị pháo kích bởi tên lửa đạn đạo của Iran hôm vừa rồi, sau cuộc tấn công trả đũa đáp trả vụ người Mỹ ám sát Tướng Kassem Suleimani. Lầu Năm Góc ngay lập tức tuyên bố rằng không có thương vong.

Có vẻ như, sự trả thù đã không diễn ra và tất cả những hù dọa của Teheran không đáng để họ phải để tâm. Binh sỹ Mỹ chỉ việc ngồi trong hầm trú ẩn, sau khi nhận được những lời cảnh báo của Iran.

Và 11 ngày sau, mới rõ ra là có thương vong - không có người nào thiệt mạng, chỉ bị thương ở đầu. Thật là điều nhảm nhí: chỉ bị một cái gì đó giống như là chấn thương sọ não.

Nhưng ngay cả chi tiết này, Lầu Năm Góc cũng cố gắng không quảng bá thật sự, để công chúng khỏi sợ hãi. Không nên làm náo động dư luận trước khả năng tiến hành một hoạt động quân sự có thể có ở Iran.

Về những thiệt hại sắp xảy ra không ai có thể đoán trước. Song, nếu căn cứ vào mọi điều thì có thể tiên đoán những mất mát đó có thể sẽ còn nhiều hơn cả những mất mát của họ ở Việt Nam.

  • Nguyễn Quang (Dịch)

Thứ Tư, 22/01/2020 07:21

Van Kien Dai Hoi
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện