Ấn Độ đón lõng nghìn công ty rời Trung Quốc: Tất yếu!

(Quan hệ quốc tế) - Việc các nhà đầu tư thoái vốn, các doanh nghiệp chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang các nước láng giềng, sẽ trở thành một xu thế tất yếu.

Xu thế này xuất phát từ sức ép chính trị của Mỹ và tư tưởng“không thể bỏ tất cả trứng vào một giỏ”, cùng với thực tế là những lợi ích lớn từ thị trường Trung Quốc đã không còn quá hấp dẫn.

Ấn Độ đón lõng nghìn công ty Mỹ rời Trung Quốc

Dù đại dịch COVID-19 chưa dứt, chính quyền New Dehli vào đầu tháng 4 đã đưa ra những chính sách ưu đãi lớn để hy vọng thu hút được hơn một nghìn công ty Mỹ chuyển cơ sở sản xuất kinh doanh vào nước này, sau khi chính quyền của ông Donald Trump cũng tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp rút khỏi Trung Quốc.

Theo đó, Ấn Độ sẽ ưu tiên các nhà sản xuất thiết bị y tế, thiết bị cho ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, sản xuất đồ da và phụ tùng ô tô.

An Do don long nghin cong ty roi Trung Quoc: Tat yeu!
Các nhà đầu tư thoái vốn, các doanh nghiệp chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang các nước láng giềng, sẽ trở thành một xu thế tất yếu.

Hãng tin Mỹ Bloomberg nhận định, những động thái này càng đáng chú ý hơn khi nó diễn diễn ra trong bối cảnh chính quyền Washington cáo buộc Bắc Kinh tạo ra coronavirus và che giấu thông tin dịch bệnh từ điểm xuất phát ban đầu là thành phố Vũ Hán, thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc.

Theo Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, tăng trưởng đầu tư sẽ giúp củng cố nền kinh tế bị ảnh hưởng do khủng hoảng và cũng sẽ giúp tăng tỷ lệ tăng trưởng khối sản xuất so với toàn nền kinh tế từ 15% lên đến 25% vào năm 2022.

Ngoài ra, việc hàng nghìn công ty, xí nghiệp sản xuất của Mỹ đổ vào Ấn Độ còn đáp ứng nhu cầu tạo công ăn việc làm, có thể tạo ra đến hàng triệu việc làm mới, cùng với sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và các cơ sở dịch vụ bảo đảm.

Đây là vấn đề rất quan trọng, trong bối cảnh nạn thất nghiệp ở Ấn Độ ngày càng trở nên gay gắt, khi có tới 122 triệu người bị mất việc làm do đại dịch.

Nhà chức trách đảm bảo rằng Ấn Độ sẽ xem xét các yêu cầu cụ thể về thay đổi luật lao động, đây tỏ ra là một trở ngại lớn đối với các công ty. Chính phủ cũng sẽ thảo luận về yêu cầu của các doanh nghiệp xin hoãn khoản thuế mới được áp dụng trong năm nay đánh vào các giao dịch kỹ thuật số.

Theo ông Ajay Sahai, Tổng giám đốc Liên đoàn các nhà xuất khẩu Ấn Độ, với lãnh thổ rộng lớn hơn và dân số cao gấp hàng chục lần, thị trường của nước này lớn hơn Việt Nam hoặc Campuchia, vì vậy Ấn Độ là địa chỉ hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư muốn rút doanh nghiệp khỏi Trung Quốc.

Ấn Độ tin tưởng có thể cạnh tranh thành công với các nước ASEAN trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo giới phân tích, sở dĩ Ấn Độ đang cố gắng thu hút dòng đầu tư ngoại là do khi ông Trump phát động cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, nhiều công ty Mỹ đã lựa chọn chuyển sang hoạt động ở các nước Đông Nam Á, nơi có thị trường lao động dồi dào, giá rẻ và ưu đãi lớn về cơ sở hạ tầng đầu tư.

Nhật Bản, EU chuyển dịch sang Đông Nam Á

Bên cạnh các động thái của Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) cũng đang có kế hoạch giảm bớt sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp Trung Quốc.

Nhật Bản đã vạch kế hoạch trị giá 2,2 tỷ USD để đa dạng hóa chuỗi cung ứng; trước mắt, chính quyền Tokyo tuyên bố sẽ triển khai chương trình hỗ trợ trị giá 23,5 tỷ yên (tương đương với 221 triệu USD) để khuyến khích các doanh nghiệp của nước này chuyển các nhà máy của mình khỏi Trung Quốc

Cụ thể, chương trình này sẽ giúp các công ty nước này bằng cách hỗ trợ tài chính để họ nghiên cứu khả thi về xây dựng cơ sở sản xuất mới ở các nước Đông Nam Á.

Sáng kiến này được triển khai sau khi nhiều hãng xe hơi, điện thoại, máy tính, điện, điện tử, điện lạnh và các hãng sản xuất khác gặp tình trạng thiếu linh kiện để hoàn thiện sản phẩm, sau khi đại dịch Covid-19 khiến các chuỗi cung ứng từ Trung Quốc bị gián đoạn.

Ngoài ra, từ trước đến nay Tokyo cũng gặp phải nhiều rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào Bắc Kinh, trong bối cảnh ở Trung Quốc có nhiều cuộc biểu tình chống Nhật Bản. Bên cạnh đó, thị trường Trung Quốc cũng không còn hấp dẫn do giá nhân công tăng cao và cuộc chiến thuế quan với Mỹ.

Nếu kế hoạch đầy tham vọng này thực hiện quyết liệt thì đây không còn là chiến lược “đa dạng hóa chuỗi cung ứng, mà trong đó Trung Quốc vẫn là nòng cốt”, mà thực chất là “sự dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước khác”.

Thực ra, từ 5 năm trước khi tình hình quan hệ song phương Trung - Nhật gia tăng bất đồng sâu sắc, chính phủ Nhật Bản đã quyết định từng bước thoái vốn đầu tư ở Trung Quốc, chuyển hướng đầu tư sang một số quốc gia Đông Nam Á.

Nhật Bàn đã lấy “gậy ông đập lưng ông”, vận dụng tuyệt vời mưu kế “Nhất tiễn song điêu” trong binh pháp Tôn Tử của chính Trung Quốc, một mặt làm suy yếu dẫn nền kinh tế Trung Quốc, mặt khác lấy lòng các quốc gia ASEAN, loại bỏ dần ảnh hưởng của Trung Quốc.

Ngoài Nhật Bản và Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu cũng có những động thái tương tự, thậm chí là còn sớm hơn. Khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung bắt đầu nổ ra thì các tập đoàn đa quốc gia châu Âu đã tính chuyện tháo chạy khỏi Trung Quốc để tránh đòn trừng phạt của Mỹ.

Một năm sau, thương chiến vẫn không tìm ra lối thoát, các mức thuế không được giảm, việc nhập các linh kiện từ Trung Quốc phải đi theo đường vòng làm gia tăng chi phí và đầy rẫy rủi ro nếu Mỹ bị phát hiện ra.

Do đó, các doanh nghiệp EU quyết định đầu hàng sức ép từ Washington, thoái vốn đầu tư và rút cơ sở sản xuất khỏi Trung Quốc, để đa dạng hóa nguồn cung cấp các hàng hóa, linh kiện, vật liệu vốn trước đây được sản xuất ở “Công xưởng của Thế giới”.

Xu thế tất yếu

Giới chuyên gia khẳng định rằng, đại dịch COVID-19 sẽ tái định hình các chuỗi cung ứng, đa dạng hóa các nguồn cung trong những năm tới, nhất là ngành công nghiệp điện tử.

Mặc dù về mặt chuỗi cung ứng công nghệ, Trung Quốc có cơ sở hạ tầng, giao thông, công nhân lành nghề và hậu cần tốt nhất; nhưng các nước nhận ra rằng, họ không thể bỏ tất cả trứng vào một giỏ.

Theo giới chuyên gia, làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á và Nam Á sẽ trở thành xu thế tất yếu. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất: Việc kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh trong thập kỷ gần đây khiến trình độ khoa học công nghệ quốc gia phát triển mạnh mẽ, mức sống nhân dân tăng lên đã khiến giá nhân công và giá đất đai ở nước này không còn là điều kiện lý tưởng cho đầu tư.

Việc tiền lương và chi phí sản xuất tại nước này tăng lên là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy các nhà tư bản chuyển hướng đặt các cơ sở sản xuất của mình từ Trung Quốc sang các nước đang phát triển và kém phát triển.

Thứ hai: Chính quyền Bắc Kinh dường như cũng đang lưỡng lự giữa việc duy trì một nền kinh tế gia công quy mô lớn làm “công xưởng cho thế giới” hay là thay đổi tư duy chiến lược, chuyển hướng xây dựng và phát triển một nền kinh tế hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao; nên đã không còn duy trì những ưu đãi lớn như trước đây.

Thứ ba: Do lệnh trừng phạt của Mỹ trong thương chiến, chi phí của việc nhập nguồn cung ứng từ Trung Quốc cho các sản phẩm có liên quan đến Mỹ giờ đây dường như sẽ cao hơn vĩnh viễn, chứ không còn là tạm thời nữa.

Do đó, các nước nhận thấy rằng, rút khỏi Trung Quốc là “việc phải làm” chứ không còn là “điều nên làm”.

Có thể nhìn thấy rằng, việc các đối thủ thoái vốn đầu tư sẽ làm đảo lộn cơ cấu nền kinh tế nước này vốn đang khó khăn vì đại dịch COVID-19.

Làn sóng đầu tư tháo chạy sẽ khiến tương lai của “Công xưởng thế giới” trở nên hết sức bấp bênh, khi những lợi thế kinh tế lớn trước đây đã không còn, cùng với đó là những rủi ro về chính trị và dịch bệnh.

Về lâu dài, việc phương Tây chuyển hướng sang các nước Đông Nam Á và Nam Á sẽ thu hẹp phạm vi đầu tư của Trung Quốc sang các nước láng giềng, giảm khả năng chi phối kinh tế, dẫn đến làm giảm sự phụ thuộc về chính trị và ngoại giao của chính quyền các nước láng giềng vào Trung Quốc, khiến Bắc Kinh mất đi một công cụ tác động đến chính sách của các nước xung quanh.

Nguyễn Ngọc

Thứ Sáu, 15/05/2020 07:49

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện