BESA Israel đánh giá chính sách đối ngoại Mỹ thời ông Trump

(Quan hệ quốc tế) - "Báo cáo Quan điểm" số 1733 của Alex Joffe , Trung tâm BESA Israel, đã đưa ra đánh giá về chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Trump.

Trọng tâm chính sách đối ngoại thời Donald Trump

Chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa là đến cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Chưa biết ông Donald Trump có tái đắc cử hay không, nhưng sẽ là hữu ích khi nhìn lại những thành tựu cũng như yếu kém trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ của vị Tổng thống được coi là “tay ngang chính trị” này.

Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược BESA, bất kỳ đánh giá nào về chính sách đối ngoại của chính quyền Donald Trump cũng là cực kỳ phức tạp do nhà lãnh đạo Hoa Kỳ “thiếu những thông điệp chính trị rõ ràng, nhưng thừa những chính sách mang tính giao dịch kinh tế” và sự trớ trêu là “những quyết định quan trọng của đất nước nhưng lại được thể hiện như một quan điểm cá nhân ở cấp cao nhất”.

Tiền đề chính sách cơ bản của chính quyền Donald Trump được thể hiện bằng câu khẩu hiệu nổi tiếng “Nước Mỹ trên hết” (America First) đã cho thấy sự tập trung chính của ông Trump là Đối nội chứ không phải Đối ngoại.

Ông chủ Nhà Trắng cho rằng, các lợi ích kinh tế và chính trị của Mỹ nên được ưu tiên hơn các quan niệm trừu tượng về hành vi của nhà nước và định chế quốc tế về quản lý toàn cầu của các tổ chức đa phương.

Được định hướng bởi quan điểm này, với những cách thức khó hiểu và thường gây khó chịu trong các chính sách được hoạch định và thực thi, vị Tổng thống thứ 45 của Mỹ đã gây ra rất nhiều tranh cãi trong các quyết định của mình.

Chúng ta có thể đi sâu vào một số trọng tâm trong chính sách đối ngoại Mỹ trong nhiệm kỳ của ông Donald Trump.

BESA Israel danh gia chinh sach doi ngoai My thoi ong Trump
Khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết” đã từng giúp ông Donald Trump thắng cử

Quyết ngăn chặn đối thủ lớn nhất là Trung Quốc

Trái ngược hoàn toàn với chính sách của Mỹ 50 năm trước đây, chính quyền của Tổng thống Trump nhìn nhận rằng:

Bắc Kinh là địch thủ lớn nhất. Sự trỗi dậy của Trung Quốc là không hề hòa bình; sự thống trị của Trung Quốc đối với lĩnh vực sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu đã tàn phá ngành công nghiệp Mỹ, mà một phần không nhỏ là do hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ trên quy mô lớn; và Bắc Kinh đang nhăm nhe mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên toàn cầu.

Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có những hành động cứng rắn với Đại Lục. Hoa Kỳ đã trừng phạt các thực thể có liên quan đến vi phạm nhân quyền, ngăn chặn hoạt động gián điệp quy mô lớn và khuyến khích các nhà sản xuất rời khỏi Trung Quốc, đặc biệt là sau đại dịch coronavirus.

Ở nước ngoài, Washington nhấn mạnh quyền tự do hàng hải trong các vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền và làm cho các quốc gia Thái Bình Dương và châu Á như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines… nhận ra rằng, Trung Quốc cũng là địch thủ của họ.

Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng nỗ lực hạn chế ảnh hưởng và hiệu quả của sáng kiến ​​“Vành đai-Con đường” của Trung Quốc, coi các nút trong “chuỗi ngọc trai” đầu tư của nước này là “tiền đồn quân sự”; ngăn cản tham vọng của Bắc Kinh ở Trung Đông và chia cắt hợp tác Trung - Nga.

Mối quan hệ được cải thiện đáng kể của Washington với New Dehli là một phần quan trọng của chiến lược mới nổi này và những hỗ trợ rõ ràng hơn đã được giành cho Nhật Bản.

Thật không may, sai lầm trong cách tiếp cận với Triều Tiên, cùng một vài thiếu sót khác của chính quyền Donald Trump đã cản trở sự phát triển của chính sách ngăn chặn này.

Hơn nữa, các khoản đầu tư khổng lồ của Trung Quốc vào EU và bộ phận mang tư tưởng chống Mỹ truyền thống ở châu Âu đã khiến giới tinh hoa ở đó miễn cưỡng hành động theo Washington. Trong khi đó, việc xúc tiến ngoại giao với châu Âu hầu như không được chính quyền Trump coi trọng.

Một số “sai lầm phổ biến” trong chính sách đối ngoại Mỹ

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược BESA nhận định, trái ngược với Trung Quốc, chính quyền ông Donald Trump đã ngộ nhận rằng, Nga là “một cường quốc đang suy tàn”, đang cố dùng hết sức tàn lực kiệt để hành động chống lại các quốc gia phương Tây và lợi ích phương Tây, ở bất cứ đâu có thể.

Việc quân đội Mỹ gần đây tái triển khai từ Đức đến Ba Lan, Bỉ và Ý đã gây ra sự phản đối đáng kể, bất chấp việc Washington và Brussels thừa hiểu rằng, mối đe dọa quân sự của Moscow đối với Tây Âu là rất ít, trong khi khả năng thống trị kinh tế của Nga thông qua cung cấp năng lượng cho châu Âu là rất thực tế.

Không có gì ngạc nhiên khi cuộc tấn công tổng lực của Mỹ chống lại tuyến đường ống “Dòng chảy Phương Bắc 2” (Nord Stream 2) lại không được hoan nghênh như việc cắt giảm quân ở Đức.

Châu Âu từ lâu đã không còn cố gắng che giấu sự khó chịu của Lục địa già đối với bản chất và cách thức cư xử của chính quyền ông Trump.

Một phần của điều này là do những bất hòa mang tính cố hữu, nhưng nó cũng phản ánh sự công nhận ngày càng gia tăng rằng “Chính quyền Trump đã tước đoạt quyền lực và sự tự chủ của châu Âu”.

Trong khi các mối quan hệ song phương với các quốc gia riêng lẻ, đặc biệt là Anh, vẫn rất quan trọng, Mỹ lại không coi một thể chế quan trọng như Liên minh châu Âu là đáng được tôn trọng, trong khi NATO bị hầu hết các quốc gia coi là “một cơ chế lạc hậu với thế giới tự do”.

Trong khi tham vọng toàn cầu của Trung Quốc thường bị người châu Âu phủ nhận, thì chính sách ngoại giao của Mỹ lại chưa lưu ý đến điều này.

Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Trung Đông cũng đang trong tình trạng tương tự, trước sự báo động của các nhà quan sát địa phương.

An ninh của Israel được đảm bảo phần lớn do chính Tel Avip, trong khi Mỹ vẫn tập trung vào Iran như một mối đe dọa khu vực và toàn cầu.

Tuy nhiên, sự chú ý của chính quyền Trump vào khu vực này đã giảm dần, dẫn đến việc ít chú ý đến kế hoạch tăng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Việc tiếp tục coi trọng Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia hiện đã mở rộng tham vọng chủ quyền của mình sang phía nam Địa Trung Hải và biển Aegean (đối với Hy Lạp và Síp) là thiển cận.

Tương tự, việc thiếu tập trung vào cuộc khủng hoảng tị nạn Địa Trung Hải và Trung Đông - mối đe dọa chính với an ninh và kinh tế của châu Âu và sau đó là Mỹ - cũng là điều đáng báo động.

Các đồng minh đang dần xa rời Mỹ?

Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược BESA, việc rút khỏi các cơ chế quốc tế và giảm dần can dự của chính quyền Trump trái ngược hẳn với chủ trương coi trọng mối liên hệ thiết yếu giữa an ninh biên giới và phát triển kinh tế mà chính quyền Mỹ đã thể hiện trong lĩnh vực đối nội.

Cho dù bị tố cáo là "phân biệt chủng tộc", nhưng việc giảm mạnh lượng nhập cư bất hợp pháp đến Mỹ từ Trung và Nam Mỹ trước đại dịch đã có tác động trực tiếp đến tình hình trong nước, thông qua số lượng việc làm tăng lên và tiền lương cho công nhân Mỹ được cải thiện.

Việc xây dựng các chính sách kinh tế gắn chặt với an ninh biên giới quốc gia phản ánh sự thừa nhận ở Mỹ rằng, toàn cầu hóa đã tàn phá các ngành công nghiệp địa phương, đưa các quốc gia vào vòng xoáy tiền lương xuống dốc, và giao chúng vào tay các đối tác thương mại của mình, đặc biệt là Trung Quốc.

Thế nhưng, việc tăng cường khả năng cho các quốc gia nhỏ hơn trong việc chống lại “chính sách ngoại giao bẫy nợ” của Trung Quốc lại không phải là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Donald Trump. Do đó, mặc dù biết nhưng Mỹ lại không có biện pháp hiệu quả để ngăn chặn Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng.

Có thể dự đoán trước rằng việc Mỹ rời khỏi các khu vực mà Washington có khả năng bảo vệ hoặc cần phải bảo vệ đã bộc lộ nguy cơ lớn.

Các quốc gia từ lâu đã quen với sự ủng hộ và trọng vọng của Hoa Kỳ, ngầm đổi lấy các hợp đồng quốc phòng và kinh tế béo bở, hiện đang quay sang Nga hoặc Trung Quốc; ngay cả các đồng minh của Mỹ giờ cũng trở nên “khó bảo” hơn.

Ví dụ, việc Saudi Arabia ký kết các thỏa thuận với Trung Quốc liên quan đến phát triển hạt nhân dân dụng là điều đáng báo động, nhưng lại không quá ngạc nhiên.

Việc Pháp không chịu từ bỏ công nghệ 5G của Huawei, qua đó “mở cửa trực tiếp cho hoạt động gián điệp và khai thác của Trung Quốc” như tuyên bố của Mỹ, đã gây sốc nhưng cũng không quá khó để giải thích.

Nguyễn Ngọc

 

Thứ Năm, 17/09/2020 07:21

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện