Chuyên gia Nga nói về 'Cuộc chiến bảo vệ biên giới 2/1979'

(Quan hệ quốc tế) - Giờ này 40 năm trước đây, Cuộc chiến tranh XHCN thứ nhất bùng nổ.

Trong tuyên bố thứ hai của Chính phủ Xô Viết ngày 2/3/1979, Bắc Kinh được cảnh báo thẳng: nếu PLA không rút quân khỏi Việt Nam ngay lập tức, PLA sẽ phải chiến đấu trên cả hai mặt trận.

Những tuyên bố lên án cứng rắn cuộc tấn công xâm lược của Trung Quốc trong các tuyên bố của Chính phủ Liên Xô được khẳng định bằng những hành động cụ thể.

Ngay khi xung đột vũ trang Trung Việt mới bắt đầu, Liên Xô đã báo động và đưa vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ (trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất) tất cả các đơn vị tên lửa và các sư đoàn Quân đội Xô Viết đóng quân tại Viễn Đông và Sibiri (25 đơn vị (sư đoàn) bộ binh cơ giới tổng quân số 250.000 người được không quân yểm trợ), những đơn vị (sư đoàn này) bắt đầu được triển khai dọc biên giới với Mãn Châu Lý.

Trước khi xung đột bắt đầu, Liên Xô đã cho tập kết một cụm quân hải quân lớn tại khu vực Biển Đông và Biển Hoa Đông tạo thành một hàng rào chắn cửa vào Vịnh Bắc Bộ.

Trong giai đoạn từ 12 đến 26 tháng 3 năm 1979, để gây sức ép quân sự lên Trung Quốc, Liên Xô đã cho tiến hành các cuộc tập trận binh chủng hợp thành và tập trận hải quân quy mô lớn ở phía Đông Liên Xô, trên lãnh thổ Mông Cổ và Thái Bình Dương với sự tham gia của hơn 200.000 sỹ quan, binh sỹ, gần 900 máy bay và 80 tàu chiến.

Liên Xô cử ngay đến Việt Nam một nhóm 20 cố vấn quân sự và các chuyên gia tất cả các quân binh chủng đứng đầu là đại tướng Ghenadi Obaturov.

Dưới sự điều hành của nhóm cố vấn này, các phi công phi đội không quân vận tải Xô Viết An-12 đã tăng cường các chuyến bay để vận chuyển quân đoàn bộ binh từ Campuchia về hướng Lạng Sơn. Một tiểu đoàn tên lửa phòng không mới thành lập cũng được điều lên hướng Lạng Sơn.

Các hành động kiên quyết của Liên Xô trong việc dành cho Việt Nam sự ủng hộ quân sự- chính trị quy mô lớn đã làm cho những nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc có ý định “muốn thử phản ứng của Kremly” không còn nghi ngờ gì về sự trừng phạt.

Khi ra quyết định về việc chấm dứt chiến dịch quân sự, Bắc Kinh cũng không thể không tính tới việc không có một sự ủng hộ rõ ràng nào từ phía Washington vì lúc đó Washington cũng đang ngày càng quan ngại khả năng (Mỹ) vì Trung Quốc mà bị kéo vào một cuộc xung đột với Liên Xô.

Mấy ngày trước khi tiến hành “chiến dịch quân sự hạn chế” (chống Việt Nam), Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc Đặng Tiểu Bình,- khi đó mới được bổ nhiệm là Tư lệnh quân khu có chung đường biên giới với Việt Nam, đã tuyên bố rằng Trung Quốc dự định sẽ dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng mục tiêu chính trị và quân sự (mà Trung Quốc) đặt ra, như chính giới cầm quyền Bắc Kinh phải thừa nhận, chỉ thực hiện được một phần nhỏ.

“Các phi công phi đội không quân vận tải An-12 bắt đầu đẩy nhanh tốc độ vận chuyển quân đoàn bộ binh (Việt Nam) từ Campuchia về hướng Lạng Sơn”.

Những tính toán của Bắc Kinh nhằm đánh sập nền kinh tế và khả năng phòng thủ của Việt Nam, tiêu diệt các đơn vị chủ lực chủ yếu của Quân đội Nhân dân Việt Nam bằng cách nhử họ về từ Campuchia (theo một số nguồn, lúc đó có tới 80% lực lượng Quân đội Việt Nam đang có mặt tại Campuchia) để làm giảm sức ép quân sự lên quân Pol Pot, đã thất bại.

Chỉ trong một thời gian ngắn, các xí nghiệp và các công trình bị tàn phá khác đã được khôi phục với sự hỗ trợ vật chất- kỹ thuật từ phía Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungaria và các nước khác. Lực lượng chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ tham chiến ở một mức độ rất hạn chế, cho đến cuối cuộc chiến tranh cũng chỉ có duy nhất một quân đoàn được điều từ Campuchia về nước.

Tổn thất của PLA trong giai đoạn tác chiến vượt xa mọi trù liệu trước đó (của Bắc Kinh). Con số tổn thất sinh mạng được đánh giá 20.000 người, mặc dù về quân số, PLA có ưu thế vượt trội đối phương nhiều lần, gấp 12 lần về số lượng xe tăng và pháo tự hành.

Theo số liệu của Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN, tổn thất của PLA là 62.500 người, còn các nguồn từ phía Trung Quốc thì đưa ra con số từ 6.900 đến 18.000 người.

Theo đánh giá của Việt Nam, (họ) đã tiêu diệt gọn 3 trung đoàn và 18 tiểu đoàn PLA, đối phương (PLA) mất 550 xe chiến đấu (xe tăng- xe bọc thép), trong đó có 280 xe tăng T-59 và xe vận tải bọc thép- 67 chiếc (trong số 280 chiếc đó) bị phá hủy, 213 chiếc còn lại bị “bắt làm tù binh” và được đưa vào trang bị cho QĐNDVN, PLA cũng mất 118 khẩu pháo và súng cối.

Tổn thất của phia Việt Nam được đánh giá là vào khoảng 22.000 người (không có các số liệu chính thức), nếu tính tới tổn thất sinh mạng dân thường- 30.000 người. Thiệt hại kinh tế của các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam là rất lớn.

Theo số liệu của phía Việt Nam, trong thời gian diễn ra chiến sự, tại 6 tỉnh biên giới đã có tới 45.000 ngôi nhà của nông dân, hơn 900 trường học, 428 bệnh viện, 25 hầm mỏ, 55 xí nghiệp công nghiệp bị phá hủy.

Trong những năm sau chiến tranh (biên giới), mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã trải qua một con đường lâu dài, phức tạp trước khi được bình thường hóa.

Bắc Kinh, do không đạt được mục tiêu của mình bằng một cuộc xung đột quân sự công khai, đã thực hiện đường lối phá hoại tại Cộng hòa Nhân dân Campuchia bằng cách gây căng thẳng trên biên giới Campuchia- Thái Lan và khuyến khích xúi giục các nhóm tàn quân Pol Pot hoạt động tại các khu vực Campuchia gần biên giới Thái Lan và ẩn nấp trên lãnh thổ Thái Lan tiến hành các hoạt động khiêu khích quân sự.

Không lâu sau khi kết thúc cuộc xung đột vũ trang (Chiến tranh Trung- Việt), Bắc Kinh quyết định không gia hạn Hiệp ước Xô- Trung “Về hữu nghị, liên minh và hỗ trợ lẫn nhau” ký ngày 14 tháng 2 năm 1950.

Thứ Sáu, 15/02/2019 07:11

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện