Cuộc chiến 2/1979: Quân chủ lực vào trận sẵn sàng tham chiến...

(Quan hệ quốc tế) - Trong cuộc chiến năm 1979, lực lượng chủ lực của Việt Nam sẵn sàng tham chiến, nếu quân Trung Quốc không rút quân về nước vào ngày 05/3.

Việc chưa sử dụng lực lượng chính quy cũng cho thấy, quân và dân các tỉnh phía Bắc Việt Nam đủ sức đánh bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của Trung Quốc, khiến chúng không đạt được mục tiêu trong cả 2 giai đoạn chính của cuộc chiến, mà vẫn chưa cần dùng đến quân chủ lực.

Tuy nhiên, theo ý kiến của tôi, quan điểm trên có điểm đúng nhưng cũng có điều chưa chính xác. Vấn đề quân chủ lực Việt Nam “chưa” [chứ không phải là “không”] tham chiến trong 2 giai đoạn đầu không thể chỉ được nhìn dưới góc độ quân sự, mà nó còn phải được xem xét dưới lăng kính chính trị.

Mặc dù đã huy động đến 620.000 quân nhưng Bắc Kinh tuyên bố cuộc chiến tháng 02/1979 là cuộc “Chiến tranh Phản kích Tự vệ”, nhằm đáp trả cái gọi là “Việt Nam xâm phạm biên giới Trung Quốc”, Trung Quốc chỉ muốn “dạy cho Việt Nam một bài học” và sẽ rút quân sau khi đạt được mục đích này vào ngày 05/03.

Như vậy, Trung Quốc công bố trước cộng đồng quốc tế đây là cuộc chiến mang tính chất “xung đột biên giới”, không có sự tham gia của quân chủ lực, mà chỉ có lực lượng quân địa phương, biên phòng, dân binh…

Đây là chiêu bài không hề lạ, đã được Bắc Kinh sử dụng trong hai cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 với Ấn Độ và Liên Xô năm 1969.

Trong những cuộc chiến này, cả Trung Quốc và Nga, Ấn Độ đều không sử dụng quân chính quy và lực lượng không quân, hải quân để đối phó với nhau, nhằm tránh leo thang xung đột thành chiến tranh quy mô lớn.

Lệnh Tổng động viên của Việt Nam chính là lời cảnh cáo Trung Quốc nên dừng lại, nếu để chủ lực Việt Nam tham chiến, Bắc Kinh sẽ phải nhận hậu quả rất xấu

Việt Nam không sợ bất cứ kẻ thù nào nhưng chúng ta hiểu được cái giá của một cuộc chiến lâu dài và khốc liệt, do đó, chúng ta chưa sử dụng đến lực lượng chủ lực rất mạnh của mình, nhằm không đẩy cuộc chiến tranh lên một cấp độ cao hơn, dài ngày hơn, với phạm vi rộng lớn hơn.

Tuy nhiên, nếu quân địch vẫn ngoan cố leo thang quy mô chiến tranh, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để tuyên cáo với cộng đồng quốc tế đây là một cuộc “Chiến tranh Xâm lược” quy mô lớn chứ không phải là “Phản kích Tự vệ” và có lí do chính đáng để tung quân chủ lực tham chiến, thậm chí là cả lực lượng không quân.

Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong những động thái của Việt Nam như sau:

Một là: Vào ngày 3/3, Bộ Quốc phòng đã quyết định điều động các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Quân đoàn 1 (tức Binh đoàn Quyết Thắng). Sư 320B của Quân đoàn 1 đã từ đồng bằng lên tăng viện cho Lạng Sơn vào ngày 4/3, sẵn sàng tham chiến nếu ngày 05/03, Trung Quốc không rút quân.

Hai là: Đúng ngày Trung Quốc phải rút quân theo công bố ban đầu (05/3), Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng công bố lệnh Tổng động viên toàn quốc để “đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc”. Đây là tuyên bố đập tan luận điệu ngụy biện về “Cuộc chiến Phản kích Tự vệ” của Trung Quốc.

Lệnh Tổng động viên được ban hành chính là lời cảnh cáo Bắc Kinh nên tôn trọng những gì đã tuyên bố, nếu không, họ sẽ phải trả giá rất đắt.

Ba là: Một phần lực lượng của Quân đoàn 2 bắt đầu hành quân từ biên giới Tây Nam bằng đường không vào ngày 06/03, về đến Hà Nội ngày 11/3 và tiếp tục di chuyển lên biên giới.

Những hành động này đều diễn ra ngay trước, trong và sau thời điểm Trung Quốc trước đó tuyên bố sẽ rút quân. Nếu Bắc Kinh lật lọng không rút quân thì quân chủ lực Việt Nam sẽ tham chiến với đầy đủ sức mạnh của nó.

Việc Việt Nam chưa dùng quân chủ lực còn thể hiện một niềm tin rất lớn là lực lượng phòng thủ biên giới, phần lớn là quân địa phương, dân quân, du kích..., có đủ khả năng chặn đứng bước tiến của số lượng quân chủ lực khổng lồ của địch, góp phần đẩy lùi chúng ra khỏi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, viết thêm một trang sử hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc của dân tộc.

  • Thiên Nam

Thứ Sáu, 15/02/2019 14:23

Sự Kiện